Vắc xin bại liệt uống được
đóng gói dưới dạng dung dịch dưới 2 hình
thức:
Ống vắc xin nhỏ bằng nhựa
Lọ thủy tinh và ống nhỏ giọt
được đựng trong 1 túi riêng.
Tháng 7 năm 2003, Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO) không khuyến nghị sử dụng
vắc xin bại liệt tiêm (IPV) riêng lẻ hoặc
phối hợp ở những nước đang phát
triển vì một số lý do: những thông tin chưa rõ
ràng liên quan đến đáp ứng miễn dịch
với IPV khi tiêm vào lúc mới sinh, theo lịch tiêm chủng
của chương trình tiêm chủng mở rộng, vi rút
bại liệt hoang dại tiếp tục lưu hành trong 2
lục địa, chi phí cao và sự phức tạp trong
quá trình thực hiện vì nó đòi hỏi bơm kim tiêm
đi kèm trong khi đó vắc xin OPV đơn giản
chỉ là uống.
OPV rất ít có phản ứng phụ. Chỉ có
khoảng dưới 1% tổng số người uống
vắc xin có biểu hiện đau đầu, tiêu chảy
hoặc đau cơ.
Nguy cơ về liệt do vắc xin (VAPP) là rất
nhỏ, với tỷ lệ khoảng 2 đến 4
trường hợp/1 triệu trẻ được
uống vắc xin
Chiến
lược quan trọng để thanh toán bệnh bại
liệt là tổ chức uống OPV bổ sung và
thường được tổ chức bằng
những chiến dịch quy mô lớn. Những Ngày Tiêm
Chủng Toàn Quốc – NIDs cho những trẻ dưới 5
tuổi uống 2 lần vắc xin bại liệt cách nhau
1 tháng mà không cần quan tâm đến tiền sử
uống OPV trước đó. Có thể thực hiện
nhiều chiến dịch NIDs mà không gây nguy hiểm do
uống nhiều liều vắc xin OPV.
Loại
vắc xin
|
Vắc
xin sống giảm độc lực
|
Số
liều
|
3
liều
|
Lịch
tiêm
|
2,
3, 4 tháng tuổi
|
Liều
nhắc lại
|
Trong
các hoạt động thanh toán bại liệt
|
Chống
chỉ định
|
Không
|
Phản
ứng phụ sau tiêm
|
Liệt
do vắc xin (VAPP) xảy ra rất hiếm (khoảng 2
đến 4 trường hợp/1 triệu trẻ
được uống vắc xin)
|
Chú
ý đặc biệt
|
Trẻ
em bị thiếu hụt miễn dịch nên
được sử dụng vắc xin IPV hơn là OPV.
|
Liều
lượng
|
2
giọt
|
Vị
trí tiêm
|
–
|
Đường
dùng
|
Uống
|
Bảo
quản
|
Nhiệt
độ từ 2°C đến 8°C (vắc xin không bị
hỏng bởi đông băng)
|
|