Ths. Nguyễn Thị Minh Phượng
Sởi là một bệnh truyền nhiễm do vi rút gây ra, lây truyền cao qua đường hô hấp, hay gặp ở trẻ em và có nhiều biến chứng nặng.
- Tác nhân gây bệnh:
- Virút sởi thuộc nhóm RNA thuộc giống Mobillivi rút của họ Paramyxoviridae.
- Ổ chứa là người, không có ổ chứa ở súc vật
- Không có trung gian truyền bệnh, không có vi rút tiềm ẩn lây truyền, chỉ có 1 typ huyết thanh, và thuốc chủng có hiệu quả.
- Cách lây truyền:
- Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do các chất tiết của mũi, họng có chứa vi rút sởi bắn ra ngoài không khí khi bệnh nhân nói chuyện, ho, hắt hơi, sổ mũi.
- Sởi là bệnh truyền nhiễm có tính lây truyền cao nhất và tính miễn dịch quần thể trong nhân dân cần phải đạt tới ³ 94% mới có thể cắt đứt được sự lây truyền của bệnh trong cộng đồng.
- Sinh bệnh học:
Tổn thương sởi là do sự tăng xuất tiết và tăng sinh các tế bào đơn nhân quanh các mao mạch, xẩy ra chủ yếu ở da, niêm mạc hầu, khí quản, niêm mạc mắt và ống tiêu hoá. Các hạt Koplik ở niêm mạc má gồm xuất tiết huyết thanh và tăng sinh tế bào nội mạch. Viêm phổi mô kẽ do sởi giống như trường hợp viêm phổi tế bào khổng lồ Hecht. Trong các trường hợp viêm não tuỷ có hiện tượng thoái hoá Myelin xảy ra ở một vài vùng của não và tuỷ sống, hiện tượng thoái hoá chất trắng với những hạt ẩn thể nằm trong nhân và trong tế bào chất.
Bệnh lây trước khi bắt đầu thời kỳ tiền triệu cho đến sau phát ban 4 ngày, ít nhất là sau phát ban 2 ngày. Vi rút vắc xin đã được chứng minh là không lây truyền được.
- Triệu chứng lâm sàng:
- Thời kỳ ủ bệnh: trung bình 10 ngày có thể thay đổi từ 7 đến 18 ngày kể từ khi tiếp xúc đến khi bắt đầu sốt.
- Thời kỳ khởi phát: còn gọi là giai đoạn viêm long, từ 4-5 ngày, là giai đoạn hay lây nhất, với các triệu chứng:
- Sốt: nhẹ hoặc cao tới 40-410C kèm theo nhức đầu đau mỏi cơ khớp.
- Viêm long: đây là triệu chứng hầu như không bao giờ thiếu trong bệnh sởi. Trẻ hắt hơi, sổ mũi, ho, viêm long kết mạc mắt gây chảy nước mắt, nhiều ghèn mắt, phù nề nhẹ mi, viêm long đường ruột gây tiêu chảy.
- Khám họng giai đoạn này có thể thấy dấu Koplik, là những chấm trắng nhỏ #1mm, nổi trên niêm mạc má, mầu đỏ, xung huyết, vị trí ngang với răng hàm thứ nhất, dấu hiệu này mất nhanh trong vòng 12 đến 18 giờ sau khi xuất hiện.
- Thời kỳ toàn phát (giai đoạn phát ban):
- Ban xuất hiện sau tai, lan dần hai bên má, cổ, ngực, bụng, chi trên và dần ra sau lưng, chi dưới đến đến toàn thân
- Ban hồng nhạt, ấn vào biến mất, có khuynh hướng kết dính lại, xen giữa có các khoảng da lành.
- Thể nhẹ có thể ban rải rác, thể nặng ban dầy gần như che kín da, ngay cả gan bàn tay, chân, đôi khi có cả ban xuất huyết.
- Khi bắt đầu phát ban, nhiệt độ tăng cao, sau giảm dần.
- Thời kỳ phục hồi: ban sởi bay dần theo thứ tự như khi mọc, sau khi bay hết để lại vết thâm đen trên da (vằn da hổ), bệnh nhân hết sốt, ăn được, sức khoẻ phục hồi dần.
- Các thể lâm sàng
- Thể nhẹ: ban rải rác, nhỏ, rời rạc, không kết dính, bay nhanh.Thường phục hồi nhanh.
- Thể nặng: ban dày đặc, che hết kín toàn bộ da trên cơ thể, ban mọc ở cả gan bàn tay, chân.
- Thể xuất huyết: ban dầy, sẫm màu, ấn vào không mất, đôi khi xuất huyết cả củng mạc mắt.
- Thể nặng và thể xuất huyết thường hay có biến chứng.
- Chẩn đoán
- Chẩn đoán xác định: Căn cứ vào
- Triệu chứng lâm sàng
- Dịch tễ học
- Xét nghiệm xác định sởi bằng cách phát hiện kháng thể IgM đặc hiệu hoặc phân lập vi rút trên nuôi cấy tế bào của các mẫu bệnh phẩm lấy từ máu, màng kết mạc mắt, mũi họng...
- Phát ban trong các bệnh khác (tinh hồng nhiệt, tăng đơn nhân nhiễm trùng...).
- Ban dị ứng.
- Biến chứng
- Đây là một trong những biến chứng thường gặp nhất, viêm phổi có thể do chính virút sởi gây tổn thương mô kẽ và cũng có thể do bội nhiễm vi khuẩn khác.
- Tác nhân thường là phế cầu, liên cầu, tụ cầu. Haemophilus influenza hay gây viêm phổi sau sởi ở những cơ địa suy dinh dưỡng, miễn dịch kém.
- Biểu hiện lâm sàng trẻ vẫn sốt cao sau khi phát ban, ho kéo dài, phổi có nhiều ran ẩm, thể nặng có thể suy hô hấp. Do đó trên một trẻ mắc sởi cần khám phổi và theo dõi tình trạng hô hấp.
- Trên một số cơ địa như: bệnh bạch cầu cấp, vi rút sởi có thể gây viêm phổi mô kẽ với tế bào khổng lồ và nhiều ẩn thể trong tế bào, một bệnh cảnh thường bẫn đến tử vong.
- Ngoài ra sởi còn có nguy cơ làm trầm trọng một bệnh cảnh lao tiềm tàng.
- Có thể xảy ra trong thời kỳ phát ban hay hồi phục
- Trẻ sốt cao, quấy khóc, tai chảy mủ vàng một bên hoặc hai bên.
- Nếu điều trị chậm có thể gây thủng màng nhĩ.
- Viêm thanh quản: có thể xuất hiện dưới hai bệnh cảnh
- Viêm thanh quản sớm: xuất hiện trong thời kỳ đầu viêm long hay thời kỳ phát ban, trẻ lên cơn khó thở về đêm, ho khan, khản giọng.
- Viêm thanh quản muộn: xuất hiện trong thời kỳ hồi phục, trẻ có cơn co thắt thanh quản, lúc này nếu soi thanh quản sẽ thấy phù nề, cần điều trị khẩn trương bằng kháng sinh và thuốc chống co thắt. Nếu có suy thở cần cho thở ôxy, đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.
- Biến chứng này thường xảy ra ở tuần thứ 2, trẻ sốt cao, đau đầu, nôn, co giật, rối loạn ý thức ở các mức độ từ ngủ gà đến hôn mê.
- Cần điều trị kịp thời và chuẩn xác để hạn chế tử vong hoặc di chứng vĩnh viễn. Nếu trẻ có viêm não tủy sau sởi cũng phải điều trị như viêm não tủy do các nguyên nhân khác: chống phù não nếu trẻ hôn mê, an thần nếu trẻ bị co giật, hạ nhiệt khi trẻ sốt cao và cho kháng sinh nếu có các nhiễm trùng kèm theo (áp dụng phác đồ điều trị viêm não của Bộ Y tế ban hành)
- Cam tẩu mã: là tình trạng nhiễm trùng ở răng miệng, có hoại tử môi, má, miệng.
- Viêm ruột kéo dài dẫn đến tiêu chảy liên tục.
- Loét giác mạc do thiếu vitamin A, có thể dẫn đến mù.
- Suy dinh dưỡng do quá kiêng khem.
- Điều trị
- Chưa có điều trị đặc hiệu.
- Điều trị triệu chứng:
- Dinh dưỡng: không nên kiêng khem kỹ quá, cần cho trẻ ăn thức ăn dễ tiêu và giàu dinh dưỡng
- Vệ sinh: vệ sinh răng, miệng, da, mắt bằng cách cho trẻ súc miệng, đánh răng, tắm rửa sạch, nhỏ mắt thường xuyên.
- Điều trị triệu chứng:
- Hạ nhiệt: Paracetamol 15mg/kg´4 lần trong ngày nếu trẻ sốt cao.
- Không dùng Corticoid
- Phòng bệnh: Tạo miễn dịch chủ động bằng vacxin
|