Bệnh rubella là bệnh truyền nhiễm do vi rút gây ra.
Hội chứng rubella bẩm sinh là nguyên nhân quan trọng
gây ra các khuyết tật trầm trọng cho trẻ sơ
sinh. Khi người phụ nữ bị nhiễm vi rút
rubella trong giai đoạn đầu trong 3 tháng đầu
của quá tŕnh mang thai, có tới 90% số trường
hợp người mẹ có thể truyền vi rút sang thai
nhi. Hậu quả thai nhi bị chết hoặc có thể
gây hội chứng rubella bẩm sinh. Nếu như ở trẻ
nhỏ nhiễm rubella chỉ biểu hiện nhẹ, th́
ở trẻ sơ sinh mắc hội chứng rubella
bẩm sinh sẽ phải gánh chịu những dị
tật nặng nề. Ngoài điếc là dị tật
thường gặp, hội chứng rubella bẩm sinh c̣n
có dị tật ở mắt, tim và năo. Ước tính hàng
năm trên thế giới có 700.000 trẻ em bị chết
v́ hội chứng rubella bẩm sinh.
Bệnh rubella lây truyền bởi các giọt
nước bọt trong không khí khi người mang mầm
bệnh hắt hơi hoặc ho. Người bệnh
trở thành nguồn lây sau 5 đến 7 ngày kể từ
khi vi rút xâm nhập vào cơ thể người mẹ,
nếu người bệnh là phụ nữ có thai trong
thời gian này có thể truyền vi rút sang thai nhi.
Người bị nhiễm vi rút có khả năng lây
truyền cao nhất trong thời kỳ phát ban. Tuy nhiên vi
rút có thể lây truyền trước và sau phát ban 7 ngày.
Trẻ bị hội chứng rubella bẩm sinh có
thể lây truyền vi rút trong khoảng thời gian một
năm hoặc hơn.
Thời gian ủ bệnh ban đầu khoảng 14 ngày.
Triệu chứng thường nhẹ nên khoảng 20%
đến 50% số người mắc bệnh
thường không chú ư cho tới khi phát ban.
Ở trẻ em, ban thường là dấu hiệu
đầu tiên, các dấu hiệu khác gồm sốt
nhẹ và sưng hạch ở cổ. Ban thường
xuất hiện ở mặt và lan dần xuống chân, thời
gian phát ban thường kéo dài khoảng 3 ngày. Ban do rubella
thường dày hơn và có màu nhạt hơn ban sởi.
Nhiều bệnh khác có phát ban tương tự như
rubella cho nên không được xem là dấu hiệu
chắc chắn của nhiễm vi rút rubella.
Trẻ có hội chứng rubella bẩm sinh thường
có những dấu hiệu như đục thuỷ tinh
thể và giảm thính giác nhưng chỉ có thể nhận
thấy từ 2 đến 4 năm sau.
Biến chứng có xu hướng xảy ra ở
người lớn hơn là trẻ em. Khoảng 70% phụ
nữ bị nhiễm trùng có thể đau hoặc viêm
khớp đặc biệt ở ngón tay, cổ tay và
đầu gối. Viêm năo xảy ra khoảng 1/5000
trường hợp và thường gặp nhất ở
phụ nữ. Xuất huyết xảy ra khoảng 1/3000
trường hợp ở trẻ em.
Biến chứng của hội
chứng rubella bẩm sinh gồm điếc, đục
thuỷ tinh thể, bệnh tim và chậm phát triển trí
tuệ.
Không có thuốc điều trị
đặc hiệu đối với rubella và hội
chứng rubella bẩm sinh. Bệnh nhân cần uống
nhiều dịch và thuốc hạ sốt. Trẻ nhỏ
bị hội chứng rubella bẩm sinh cần
được điều trị những biến
chứng do bệnh gây ra.
Vắc xin rubella an toàn hiệu
quả, khi được dùng cho trẻ em thường
phối hợp với vắc xin sởi và quai bị.
Ở một số nước phát triển bệnh rubella
gần như đă được loại trừ nhờ
chương tŕnh tiêm chủng cho trẻ em. Tuy nhiên,
điều quan trọng là phải đảm bảo
đạt được và duy tŕ tỉ lệ tiêm
chủng cho trẻ trên 80% tránh sự lây truyền của
rubella sang tuổi lớn hơn. Để pḥng hội
chứng rubella bẩm sinh, nữ tuổi sinh đẻ là
những đối tượng đầu tiên đối
với tiêm vắc xin rubella. Tiêm chủng cho nữ 15
đến 40 tuổi sẽ làm giảm nhanh tỉ lệ
mắc hội chứng rubella bẩm sinh, không có sự lây
truyền của vi rút rubella sang trẻ lớn.
Những điểm chính
Rubella là bệnh lây truyền do vi rút.
Rubella thường gặp ở trẻ
nhỏ, những người phụ nữ bị rubella
sớm trong kỳ mang thai có thể truyền vi rút sang cho
thai nhi gây hội chứng rubella bẩm sinh.
Phát ban là triệu chứng thường
gặp của rubella đặc biệt ở trẻ em.
Biến chứng của rubella ít gặp.
Nhưng biến chứng của hội chứng rubella
bẩm sinh th́ nghiêm trọng hơn bao gồm đục
thuỷ tinh thể và chậm phát triển trí tuệ.
Vắc xin rubella an toàn và hiệu quả.
Vắc xin rubella thường dùng loại vắc xin
phối hợp pḥng sởi hoặc sởi và quai bị.
Điều quan trọng là tỉ lệ
tiêm chủng ở trẻ nhỏ phải đạt và duy
tŕ trên 80% để tránh sự lây truyền sang nhóm tuổi
lớn hơn.