|
1.Phân loại:
Virút gây bệnh dại thuộc họ Rhabdoviridae ,giống Lyssavirus. Có khỏang hơn 100 chủng cuả họ Rhabdoviridae phân bố trong thiên nhiên có thể gây nhiễm cho động vật và thực vật.
Bằng kỹ thuật sinh học phân tử, kỹ thuật kháng thể đơn dòng người ta đã nghiên cứu nhận dạng các chủng virút phân lập được từ 1 số lòai động vật hoang dại và phân chia các chủng virút của nhóm Rhabdoviridae, giống Lyssavirus thành 4 týp thuyết thanh trên cơ sở mối liên quan kháng nguyên và huyết thanh học.
Huyết thanh týp 1:Chủng virút thử thách chuẩn(challenge Virus Standard) bao gồm phần lớn các chủng “ hoang dại “ được phân lập từ lòai động vật có vú sống trên cạn, từ lòai dơi ăn côn trùng ở Nam Mỹ và dơi hút máu ở Mỹ La Tinh, kể cả các chủng virút cố định dùng trong phòng thí nghiệm.

Huyết thanh týp 2:Chủng Lagos, lần đầu tiên được phân lập từ não dơi ở Nigeria(Lagos – 1), sau đó ở Cộng hòa Trung Phi(Lagos – 2 ) và từ dơi ở Gui – Nê và mèo ở Zim –ba– buê(Lagos – 3).
Huyết thanh týp 3:Chủng Mokola, đầu tiên được phân lập từ chuột chù ở Nigeria sau đó từ người (Mokola – 1), tiếp theo được phân lập từ chuột chù ở Camơrun (Mokola – 2 ), Cộng hòa Trung Phi(Mokola – 3) và từ chó ở Zimbabuê(Mokola – 5).
Huyết thanh týp 4:Chủng Duvenhage, đầu tiên được phân lập từ người ở Nam Phi(Duvenhage – 1), sau đó từ lòai dơi ở Nam Phi(Duvenhage – 2) và ở Zimbabuê(Duvenhage – 3).
Có 4 kiểu gen tương ứng với 4 týp huyết thanh đã được mô tả và các nghiên cứu về di truyền học đã xác nhận và mở rộng phân lọai này. Đáng chú ý là kết quả những nghiên cứu gần đây về các chủng virút được phân lập từ lòai dơi Châu Âu(European bat lyssaviruses – EBL), trong số đó chủng phân lập từ lòai dơi Eptesicus serotinux (EBL – 1), từ lòai dơi Myotis(EBL – 2), cũng như chủng virút phân lập từ người sau khi phơi nhiễm với dơi ở Phần Lan và Ucraina đã được xếp vào các kiểu gen 5 và 6.
2.Hình thái:
Virút dại có hình viên đạn một đầu tròn, đầu kia dẹt(hình 1.1) với chiều dài trung bình từ 100 – 300 nm, đường kính từ 70 – 80 nm.

Sự thay đổi về độ dài phản ánh sự khác biệt giữa các chủng virút dại hay sự hiện diện của các hạt trung gian có cấu trúc bộ gen không hòan chỉnh với độ dài ngắn hơn khỏang từ 20 – 50% so với hạt virút hòan chỉnh. Các hạ trung gian có bộ gen bị cắt xén và vì thế thiếu hụt một số chức năng của virút, chúng nhân lên một cách nhanh chóng và cạnh tranh tích cực với các hạt virút có bộ gen bình thường trong quá trình tạo thành lớp vỏ bao.
|