|
1. Gây nhiễm:
Virút dại xâm nhập vào cơ thể người từ động vật bị dại qua vết cắn , vết xước, vết liếm trên lớp da,niêm mạc bị tổn thương. Ở một số súc vật ăn thịt trong nước bọt cuả chúng có nhiều enzym hyaluronidaze là yếu tố có thể giúp cho virút dại lan toả nhanh hơn tới hệ thần kinh.
Là một virus ái thần kinh, sau khi xâm nhập nó tồn tại nhân lên tại vết thương từ vài giờ cho tới vài tuần. Sau đó nhanh chóng đi tới các đầu mút thần kinh cảm giác và vận động cuả hệ thần kinh ngoại biên rồi chuyển tới cơ quan thần kinh trung ương. Vì thế virus dại chỉ tiếp xúc thoáng qua với hệ miễn dịch mặc dù gần đây có công trình cho rằng sự âm hoá virus dại khỏi hệ thần kinh qua kháng thể trung gian là có thể xảy ra. Khi đã có mặt ở trong nơron cuả hệ thần kinh ngoại biên, virus được vận chuyển trong acxon bằng dòng phản hồi cuả tế bào sợi acxon với tốc độ 0.3 mm/giờ tới hệ thần kinh trung ương, nơi nó tiếp tục được nhân lên. Phần cuống não bị nhiễm trước tiên, sau đó tới vùng dưới đồi và cuối cùng đến phần vỏ não bị tổn thương. Tuy nhiên vào giai đoạn nhiễm cuối thì toàn bộ hệ thần kinh trung ương cũng như một số mô ngoài như tuyến nước bọt cũng bị nhiễm virus, nhưng cơ chế nhân lên cũng bắt đầu vào thời điểm nào thì chưa rõ. Khi xâm nhập và nhân lên trong tế bào thần kinh, virus dại gây tổn thương não tuỷ ở các mức độ nặng nhẹ mà biểu hiện lâm sàng sẽ khác nhau.
2. Ủ bệnh:
Thời kỳ ủ bệnh tương ứng với sự di chuyển và nhân lên của virus. Thời gian này dài hay ngắn tuỳ thuộc vào quãng đường phải đi qua từ nơi vết cắn đến thần kinh trung ương.
Thời gian ủ bệnh trung bình là 30 – 90 ngày ( 80% trường hợp ), có những trường hợp nhanh dưới 20 ngày ( 5 – 10% trường hợp ) hoặc chậm hơn 3 tháng ( 7 – 20% trường hợp ). Thậm chí kéo dài hơn cả năm ( 1,8% trường hợp ). Thời gian ủ bệnh ngắn nhất được tìm thấy khi vết cắn ở đầu, mặt, tay và đặc biệt là đối với trẻ em.
3. Triệu chứng tiền lâm sàng:
Từ 2 – 4 ngày trước khi phát hiện, bệnh nhân thấy đau nhức, sưng tấy tại vết cắn có thể quan sát được. Những dấu hiệu này lan rộng dọc theo hệ thống thần kinh và hệ thống hạch bạch huyết. đồng thời với các triệu chứng trên còn có một số triệu chứng khác kèm theo: bồn chồn, thổn thức, la hét, chán nản vô cớ.
4. Triệu chứng lâm sàng:
Có 3 thể lâm sàng:
4.1. Thể co thắt:
Đây là thể thường gặp nhất. Đặc điểm là co cứng, co thắt, co giật, run các cơ kể cả cơ ở mặt. Co thắt hô hấp và co thắt thanh quản là biểu hiện tổn thương hành tủy. Triệu chứng đặc trưng của bệnh là nhân lên cơn dại:
- Sợ nước: bệnh nhân thường rất khát nhưng khi uống nước họ bị co thắt lồng ngực, bị ức chế thở và run cầm cập. Trạng thái này qua mau nhưng để lại ấn tượng kéo dài cho bệnh nhân, vì vậy họ không thiết uống nước mặc dù rất khát. Từ đó dẫn đến chỉ cần nhìn thấy 1 ly nước hoặc nghe tiếng nước chảy cũng sợ.
- Sợ gió, sợ ánh sáng được mô tả tương tự. Tính cách bệnh nhân không bình thường, bệnh nhân bị phấn khích quá độ khi bị kích thích. Không phát hiện dấu hiệu mất tri thức.
Những cơn co thắt đầu tiên còn xa nhau, càng ngày càng mau và thường tử vong sau 3 – 4 ngày do ngất hoặc ngạt trong một cơn co thắt sợ nước hoặc sau một cơn hôn mê.
4.2. Thể liệt:
Thể này hiếm hơn, kém điển hình hơn. Dấu hiệu phấn khích quá độ không có. Bệnh xuất hiện rất nhanh sau giai đoạn co thắt, run. Liệt có thể tiên phát và bắt đầu bằng liệt 1 chi hoặc 2 chi dưới rồi lan lên trên ( hội chứng Landry ) hoặc xuống dưới. Tử vong thường do ngạt hoặc ngất vào ngày thứ 4. diễn biến bệnh không quá 4 – 10 ngày.
4.3. Thể cuồng:
Bệnh nhân bị kích thích quá độ, có những phản ứng dữ tợn, người bệnh trở lên hung bạo. Vì vậy bệnh nhân thường có những hành vi không bình thường như chống lại y bác sĩ và những người quanh mình. Thể trạng suy sụp nhanh, hôn mê, ngất và chết.
5. Chẩn đoán tổng quát:
Nếu bệnh ở vào thời kỳ toàn phát thì việc chẩn đoán qua những biểu hiện lâm sàng không khó lắm, nhưng trong công tác thực tế ta thường gặp phải những trường hợp như sau:
5.1. Chó vẫn sống hay bề ngoài vẫn khoẻ mạnh:
Cần phải tiến hành việc theo dõi và không được giết chó trong bất kỳ trường hợp nào. Nếu chó đang trong thời gian ủ bệnh thì các triệu chứng sẽ xuất hiện thường là khoảng 2 ngày sau nhưng có thể lâu hơn. Khi xuất hiện những biểu hiện đầu tiên của bệnh, chúng ta sẽ bước sang trường hợp thứ hai.
5.2. Chó bị bệnh:
Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để kết luận. Đối với thể bại liệt, con vật thường bị bại liệt phần thân sau hay bại hàm. Còn đối với thể dại điên cuồng, con vật có những cơn hung dữ, chảy nhiều nước bọt và tiếng sủa khan. Con vật sẽ chết 2 – 3 ngày sau đó. Khi đó chúng ta sẽ gặp trường hợp thứ 3.
5.3. Chó đã chết:
Lấy mẫu là những phần ở não để tiến hành xét nghiệm.
Hiện nay có 3 phương pháp thông dụng nhất để chẩn đoán xét nghiệm bệnh dại, đó là phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phương pháp tiêm truyền trên động vật thí nghiệm và phương pháp giải phẫu bệnh.
1.Phương pháp miễn dịch huỳnh quang:
Phương pháp này gồm có các bước sau: đánh dấu kháng thể bằng một chất nhuộm màu là fluorochrome, làm cho kháng thể phản ứng với kháng nguyên đặc hiệu ( nếu hiện diện ) và sau đó quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang. Một chất được gọi là có tính huỳnh quang, nếu sau khi hấp thu năng lượng ánh sáng ở một độ dài sóng nào đó, sẽ phát ra ánh sáng ở một độ dài sóng khác.
Trong trường hợp của bệnh dại, khi kháng nguyên kết hợp với kháng thể được đánh dấu bằng isothiocynat fluoroxin ( là một chất nhuộm màu được sử dụng nhiều nhất ) sẽ thấy xuất hiện những tiểu phần phát sáng màu xanh của quả táo hoặc vàng xanh lá cây nhạt trên một nền đen. Nền đen này có thể chứa hoặc không chứa vật có tính huỳnh quang không đặc trưng. Tính chất và đậm độ của màu sắc có thể thay đổi tuỳ theo việc sử dụng các loại kính lọc màu khác nhau.
Hiện nay, phương pháp miễn dịch huỳnh quang là một phương pháp cho kết quả chẩn đoán xét nghiệm nhanh nhất ( có thể chỉ vài giờ sau khi nhận mẫu ) và chính xác nhất ( 98 – 99,4% ) so với các phương pháp khác. Do đó phương pháp này cần được sử dụng trong tất cả các phòng xét nghiệm chuyên về bệnh dại.
2. Phương pháp tiêm truyền qua động vật thí nghiệm:
Ngày nay người ta thường sử dụng chuột bạch để chẩn đoán xét nghiệm bệnh dại. Một số phòng xét nghiệm sử dụng chuột con mới đẻ, còn một số phòng thí nghiệm khác thì dùng chuột lẻ bầy. Bệnh phẩm là não của con vật nghi dại được lấy ở các phần sau sừng Ammon, hai bên bán cầu não và tiểu não. Bệnh phẩm phải được lấy từ những con vật nghi dại vừa mới chết hoặc chế chưa quá 24 giờ và phải được ướp đá kỹ lưỡng. Đối với con vật lớn có thể cắt lấy đầu còn với con vật nhỏ phải để nguyên con và trong cả 2 trường hợp phải giữ cho hộp sọ còn nguyên vẹn.
Não sau khi lấy ra khỏi hộp sọ phải cho ngay vào dung dịch Glycerin để bảo quản. Tại phòng xét nghiệm, não phải được lấy ra để rửa sạch, đem nghiền nát và xử lý kháng sinh để diệt vi trùng tạo nhiễm. Sau đó tiêm huyền dịch đã pha vào não của chuột bạch con với liều lượng là 0,02 ml cho mỗi con và tiến hành theo dõi trong một thời gian tối thiểu là 4 tuần .
Nếu trong bệnh phẩm có chứa virus dại thì sau một thời gian nung bệnh 10 – 15 ngày, chuột sẽ có những biểu hiện mắc bệnh. Những dấu hiệu thường thấy là bỏ ăn, xù lông, phản ứng có phần chậm chạp hoặc hốt hoảng thái quá khi khua động bocal, khả năng vận động lanh lợi của chuột đã mất thăng bằng và ngã xuống. Biểu hiện này xảy ra trong vòng 1 – 2 ngày. Sau đó chuột sẽ bị bại liệt, bắt đầu là 2 chân sau, kế đến lan dần ra toàn thân. Chuột nằm nghiêng, co giật mạnh, co rúm thân mình lại khi dùng panh chạm vào thân hay gõ vào thành bocal. Ban đầu chuột còn thở mạnh, sau đó thoi thóp và cuối cùng chuột sẽ chết. Giai đoạn từ khi bị bại liệt đến lúc chết thường trong vòng 1 – 2 ngày. Tuy nhiên biểu hiện bại liệt có thể xuất hiện trong một thời gian rất ngắn hay không xuất hiện tức là chuột sẽ bị chết đột ngột.
Nếu trong 4 tuần theo dõi, chuột tiêm không có biểu hiện nào bất thường thì sẽ kết luận âm tính, bệnh phẩm không chứa virus dại.
Mức độ chính xác của phương pháp này khá cao : 98,3 – 98,79%, tương đương với phương pháp miễn dịch huỳnh quang. Theo các chuyên gia về bệnh dại của TCYTTG, ở các phòng xét nghiệm có trình độ chuyên môn cao, sự tương đồng về các kết quả của phương pháp này gần như đạt đến 100%. Với phương pháp tiêm truyền trên động vật thí nghiệm, còn giúp phát hiện đến 20% các trường hợp sai sót của phương pháp giải phẫu bệnh thể Negri.
3. Phương pháp giải phẫu bệnh:
Dùng để phát hiện thể Negri, là bệnh tích đặc trưng của bệnh dại, nhờ một chất nhuộm màu thích hợp. Thuốc nhuộm của Sellers, Giemsa được sử dụng rộng rãi và tỏ ra khá tốt. Dù có sử dụng loại thuốc nhuộm nào, cũng phải chú ý tránh để không nhầm lẫn thể Negri với các thể ẩn nhập của những bệnh do virus khác hay với những vật thể khác. Sự phân biệt này rất tế nhị nên cần đến một người làm công tác xét nghiệm có trình độ chuyên môn cao.
Với phương pháp này, có thể cho kết quả chẩn đoán dương tính trong vòng vài ngày. Trong trường hợp kiểm tra thể Negri âm tính, cần tiếp tục tiến hành các phương pháp chẩn đoán khác như phương pháp miễn dịch huỳnh quang và phương pháp tiêm truyền trên động vật thí nghiệm. Ngày nay, có nhiều kỹ thuật giải phẫu học chẩn đoán nhanh dựa vào việc sử dụng những coupe đông lạnh, nhưng việc sử dụng phương pháp này ngày càng ít đi vì hiện tại phương pháp chẩn đoán nhanh chính là kỹ thuật huỳnh quang. Tuy vậy, phương pháp này vẫn còn có ích nếu mô não bị mềm và nếu muốn giữ lâu để nghiên cứu.
Mức độ chính xác của phương pháp này vào khoảng 65,8 – 75,4%.
6. Biện pháp xử lý sau khi bị súc vật cắn ( xem bài thường quy phòng chống bệnh dại ).
|