A. Ngoáy mũi B. Ngoáy
họng C. Ngoáy mũi-hầu
- Rửa lỗ
mũi (rất tốt)
- Chỉ dùng cho
người lớn không hôn mê.
- Bệnh
nhân nằm ngửa hoặc ngồi ngửa hẳn cổ ra phía sau, nói “K”
và giữ vậy để đóng khí quản tránh sặc nước.
- Dùng bơm tiêm
bơm 10 ml nước muối sinh lý vào 1 lỗ mũi.
- Bệnh nhân cúi
đầu về phiá trước, hứng dịch rửa mũi vào 1 đĩa Petri
hoặc 1 ly (cốc) vô trùng. Lặp lại như trên cho lỗ mũi
bên kia. Chuyển 1,5 ml dịch rửa lỗ mũi vào ống chứa sẵn
3 ml môi trường vận chuyển (tỉ lệ 1 :2).
-
Súc họng
(rất tốt)
- Chỉ
dùng cho người lớn và trẻ lớn.
- Bệnh
nhân súc họng với 20 ml nước muối sinh lý, giữ khoảng 30
giây, cho dịch súc họng vào 1 điã Petri hoặc 1 ly (cốc)
vô trùng.
- Chuyển
1,5 ml dịch rửa lỗ mũi vào ống chứa sẵn 3 ml môi trường
vận chuyển.
- Hút dịch
khí quản (tốt nhất, nếu bệnh nhân đang được đặt ống)
- Ngưng
máy hút, dùng bơm tiêm chứa 2 ml nước muối sinh lý bơm
qua ống nội khí quản, hút ngay ra bằng ống tiêm, nối
lại máy thở ngay.
- Chuyển
1,5 ml dịch khí quản vào ống chứa sẵn 3 ml môi trường
vận chuyển.
-
Huyết thanh
(lấy máu kép tìm kháng thể kháng vi rút H5)
- Máu I : lấy
càng sớm càng tốt sau khi phát hiện bệnh.
- Dùng cồn 70%
khử khuẩn vùng da ở nơi sẽ lấy máu tĩnh mạch.
- Lấy 3-5 ml
máu tĩnh mạch cho vào 1 ống nghiệm vô trùng, đậy nắp.
- Để ở nhiệt độ
phòng 1-2 giờ cho máu đông.
- Ly tâm
2.000 vòng/ phút trong 10 phút.
- Hút huyết
thanh bên trên chuyển sang 1 tube khác vô trùng.
- Máu II:
lấy cách mẫu trước 2-3 tuần, nếu bệnh nhân còn sống.
- Một mẫu
máu ít có giá trị chẩn đoán nhưng có thể để tham khảo.
-
Bệnh phẩm mô tử thiết (autopsy/postmortem tissue)
- Thời
điểm lấy: càng sớm càng tốt sau khi chết.
- Mô
tươi cần lấy: phổi, gan, lách, thận.
- Lấy
mô ở bờ sang thương, không lấy chỗ mô bị hoại tử hoặc mô
bình thường.
- Cho
mỗi loại mô vào lọ riêng chứa môi trường vận chuyển vi
rút, ghi rõ trên lọ tên loại mô gì, bảo quản tạm ở âm
20oC hoặc ngăn đá tủ lạnh trước khi chuyển
đến phòng thí nghiệm trong 24 giờ.
4. CÁCH
GHI NHÃN VÀ PHIẾU:
- Dán
nhãn trên mỗi lọ BP, ghi mã số, tên gọi của bệnh nhân,
tuổi, loại BP (nhất là để phân biệt BP ngoáy họng, ngoáy
mũi, ngoáy trực tràng), ngày lấy BP. Có thể ghi trên
nhãn rời, rồi cho vào cùng túi chứa BP.
- Điền
đầy đủ chi tiết vào phiếu bệnh phẩm và phiếu điều tra
dịch tễ theo mẫu. Nếu chuyển nhanh bằng bưu điện phải
gói kín các phiếu trong 1 túi nylon.
5. QUY TRÌNH LẤY BỆNH
PHẨM:
-
Ca nghi
ngờ :
- Lấy
mẫu ngoáy mũi và ngoáy họng.
- Nên
lấy nhiều lần vào những thời điểm khác nhau thì khả
năng bắt được virút càng cao.
-
Ca âm tính với
H5N1 nhưng yếu tố dịch tễ và lâm sàng điển hình
- Về
nguyên tắc xét nghiệm, kết quả âm tính cũng không loại
trừ nguyên nhân gây bệnh nếu yếu tố lâm sàng và dịch
tễ điển hình.
- Phải
lấy lại bệnh phẩm ngoáy mũi họng (nếu bệnh nhân còn
sống) để xét nghiệm lần 2.
-
Khi có
ca H5N1(+) :
- Lập danh
sách và lấy mẫu các người tiếp xúc và các người đối
chứng của ca H5N1(+) để theo dõi nếu có trường hợp lây
trực tiếp từ người sang người.
-
Người
tiếp xúc: là những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh
nhân như ở cùng nhà, cùng tiếp xúc với gia cầm hoặc
cùng ăn sản phẩm gia cầm bệnh/chết, nhân viên y tế
trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.
-
Người
đối chứng: là người khoẻ mạnh có cùng giới tính,
cùng tuổi chứng (có thể bằng, nhỏ hơn hoặc lớn hơn 1
năm/tháng tuổi) sống ở cùng tổ/ấp/phường hoặc ở khu
vực kế cận nếu không tìm ra đúng đối tượng.(khi có 1
ca bệnh H5N1 dương tính phải chọn 4 ca chứng).
- Loại mẫu
cần lấy:
Lần đầu
- Ca tiếp xúc:
lấy ngoáy họng và máu đông để tách huyết thanh.
- Ca đối chứng:
lấy máu đông để tách huyết thanh (không ngoáy họng).
Lần sau
(cách lần đầu 2-3 tuần)
- Ca tiếp xúc:
lấy máu đông để tách huyết thanh (không ngoáy họng).
II. HƯỚNG DẪN ĐÓNG GÓI, BẢO QUẢN BỆNH PHẨM:
- Dùng khăn
giấy hoặc giấy vệ sinh quấn quanh từng ống hoặc lọ.
- BP, đặt
trong 1 túi nylon.
- (2 lớp),
buộc (cột) chặt bằng 2 sợi dây thun khoanh, cho vào 1
hộp cứng để tránh bể vỡ.
- Các que
bông phải đặt trong môi trường chuyên chở vi rút.
- Các ống
BP luôn luôn phải đặt đứng thẳng.
- Giữ
tạm BP ở tuyến cơ sở: +4oC/ < 48 giờ (phích lạnh+hộp đá
ướt, ngăn mát tủ lạnh).
- Nếu giữ
lâu hơn phải để ở –20oC (tủ đông lạnh).
- Vận
chuyển BP: +4O C (phích lạnh).
- Bảo quản
ở phòng thí nghiệm: -70O C (tủ đông sâu).
- Không làm
đông làm tan băng BP nhiều lần.
- Các
dụng cụ sau khi chứa BP phải tiệt trùng bằng nước sôi >
30 phút (nếu chịu nhiệt) hoặc ngâm vào dung dịch khử
khuẩn có Chlorine (Sodium hypochlorite còn gọi là nước
Javel) 0,5%, hoặc Chloramine B pha 2- 5% trong 2 giờ.
- Gửi
bệnh phẩm kèm phiếu bệnh phẩm và phiếu điều tra đến
Phòng thí nghiệm Vi-rút Hô Hấp, Viện Pasteur TP.HCM,
167 đường Pasteur, Q3, TP.. HCM, ĐT:
8 202 878. |