Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
 CHUYÊN MỤC
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
 

Y TẾ CỘNG ĐỒNG

 

KỸ THUẬT LẤY MẪU - BẢO QUẢN

BỆNH PHẨM CÚM A/H5N1

 

 

I. HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT LẤY MẪU:

1. LƯU Ý :

-         Phải dựa vào định nghĩa ca bệnh để chọn lọc bệnh nhân.

-        Lấy bệnh phẩm (BP) đúng lúc và đúng cách là yếu tố đầu tiên quyết định sự chính xác của xét nghiệm.

-        Thời điểm lấy BP càng sớm càng tốt trong vòng 72 giờ sau khi phát bệnh và trước khi dùng thuốc kháng vi rút . Trường hợp phát hiện bệnh muộn, vẫn lấy BP dù cơ hội phát hiện được vi rút rất thấp.

-        Hạn chế làm đông và tan băng bệnh phẩm nhiều lần.

-        Nên lấy nhiều loại BP cùng lúc và ở nhiều thời điểm khác nhau để đảm bảo không bỏ sót trường hợp nào dương tính.

-        Kỹ thuật xét nghiệm: RT PCR, cấy phân lập vi rút trên tế bào MDCK, định lượng kháng thể trong huyết thanh bằng phản ứng trung hòa vi lượng .

-        Kết quả âm tính cũng không được loại trừ bệnh nếu có yếu tố lâm sàng và dịch tễ rõ ràng vì kết quả âm tính giả có thể do cách lấy BP hoặc kỹ thuật xét nghiệm.

2. CHUẨN BỊ :

-        Trang phục bảo hộ: mũ, khẩu trang, kính, áo, quần, bao tay (găng), bao giầy.

-        Que vô trùng cán nhựa, đầu có bông sợi tổng hợp (không dùng que cán tre hay gỗ) . Tốt nhất là que có cán dài mềm như sợi dây đàn to, đầu que có bông bằng sợi tổng hợp.

-        Kéo để cắt que bông.

-        Đĩa Petri hoặc ly (cốc) vô trùng.

-        Bơm kim tiêm cỡ 3-5-10 ml.

-        Dây thắt tĩnh mạch (garot).

-        Oáng nghiệm lấy máu đông và ống chứa huyết thanh.

-        Pipette Pasteur hoặc ống nhỏ giọt vô trùng để tách huyết thanh.

-        Nước muối sinh lý NaCl  0,85%.

-        Môi trường vận chuyển vi rút do Viện Pasteur TP.HCM cung cấp , bảo quản ở 2-8oC, không dùng khi môi trường bị đục hoặc chuyển từ màu tím nhạt sang màu tím đậm hoặc màu vàng.  Có thể thay bằng nước muối sinh lý nhưng không tốt lắm.

-        Túi nylon chứa các tube BP.

-        Khăn giấy thấm mềm hoặc giấy vệ sinh.

-        Hộp cứng bằng nhựa có nắp xoáy, nếu có.

-        Phích lạnh có sẵn hộp nước đá đông băng.

-        Cồn 70% hoặc dung dịch khử khuẩn có chlorine như Sodium hypochorite (còn gọi là nước tẩy Javel, bán ở thị trường với nồng độ 5%) pha 1/10 để có nồng độ sau cùng 0,5%, hoặc Chloramine B pha 2- 5%.

-        Phiếu bệnh phẩm, phiếu điều tra, nhãn, bút dầu không phai mực.

3. HƯỚNG DẪN CÁCH LẤY MẪU BỆNH PHẨM:

Lấy bất kỳ ít nhất 2  trong số các loại BP sau đây và huyết thanh kép.

  1. Ngoáy mũi

-        Bệnh nhân ngửa cổ, luồn que bông vào 1 lỗ mũi, phía sau cuốn mũi dưới, không chà vào vách ngăn 2 lỗ mũi, để yên vài giây cho chất dịch thấm vào bông, vừa xoay để chà lấy tế bào niêm mạc mũi vừa rút ra. Dùng cùng 1 que ngoáy lỗ mũi bên kia. Cho que vào 1 ống chứa môi trường vận chuyển vi rút, bẻ ngắn que vừa bằng miệng ống để đậy nắp thật kín.

  1. Ngoáy họng            

-        Chọn nơi có ánh sáng tốt hoặc dùng đèn chiếu sáng vào họng bệnh nhân.

-        Bệnh nhân ngửa cổ, dùng cây đè lưỡi, cặp cùng lúc 2 que bông cho cứng, chà 2 bên vùng a-mi-đan (amygdale), đặc biệt thành sau họng đến khi bệnh nhân sắp nôn, tránh chạm vào vòm họng và lưỡi, động tác phải cẩn thận, nhanh và dứt khoát. Chú ý chà mạnh thành sau họng  để có tế bào niêm mạc họng dính vào que bông.

-         Cho 2 que bông vào cùng lọ chứa môi trường vận chuyển vi rút như trên.

  1. Ngoáy mũi- hầu (tốt hơn)

-        Dùng que bông mềm cán dài, đo chiều dài que bằng khoảng cách từ lỗ mũi đến trái tai cùng bên của bệnh nhân (# 6-9 cm).

-        Bệnh nhân ngửa cổ, cho que vào 1 lỗ mũi, luồn sâu từ lỗ mũi xuống họng bệnh nhân bằng khoảng cách vừa đo đến khi người lấy mẫu có cảm giác bị vướng không vào sâu hơn được nữa.  

-        Để yên 30-60 giây cho thấm chất dịch mũi họng, rút ra nhanh. Chỉ cần lấy ở 1 lỗ mũi, cho vào lọ chứa môi trường vận chuyển vi rút. Cắt ngắn que vừa bằng miệng ống để đậy nắp thật kín

 

A. Ngoáy mũi           B. Ngoáy họng      C. Ngoáy mũi-hầu

  1. Rửa lỗ mũi  (rất tốt)

-         Chỉ dùng cho người lớn không hôn mê.

-        Bệnh nhân nằm ngửa hoặc ngồi ngửa hẳn cổ ra phía sau, nói “K” và giữ vậy để đóng khí quản tránh sặc nước.

-         Dùng bơm tiêm bơm 10 ml nước muối sinh lý vào 1 lỗ mũi.

-         Bệnh nhân cúi đầu về phiá trước, hứng dịch rửa mũi vào 1 đĩa Petri hoặc 1 ly (cốc) vô trùng. Lặp lại như trên cho lỗ mũi bên kia. Chuyển 1,5 ml dịch rửa lỗ mũi vào ống chứa sẵn 3 ml môi trường vận chuyển (tỉ lệ 1 :2).

  1. Súc họng (rất tốt)

-        Chỉ dùng cho người lớn và trẻ lớn.

-        Bệnh nhân súc họng với 20 ml nước muối sinh lý, giữ khoảng 30 giây, cho dịch súc họng vào 1 điã Petri hoặc 1 ly (cốc) vô trùng.

-        Chuyển 1,5 ml dịch rửa lỗ mũi vào ống chứa sẵn 3 ml môi trường vận chuyển.

  1. Hút dịch khí quản (tốt nhất, nếu bệnh nhân đang được đặt ống)

-        Ngưng máy hút, dùng bơm tiêm chứa 2 ml nước muối sinh lý bơm qua ống nội khí quản,  hút ngay ra bằng ống tiêm, nối lại máy thở ngay.

-        Chuyển 1,5 ml dịch khí quản vào ống chứa sẵn 3 ml môi trường vận chuyển.

  1. Huyết thanh (lấy máu kép tìm kháng thể kháng vi rút H5)

-         Máu I : lấy càng sớm càng tốt sau khi phát hiện bệnh.

-         Dùng cồn 70% khử khuẩn vùng da ở nơi sẽ lấy máu tĩnh mạch.

-         Lấy 3-5 ml máu tĩnh mạch cho vào 1 ống nghiệm vô trùng, đậy nắp.

-         Để ở nhiệt độ phòng 1-2 giờ cho máu đông.

-         Ly tâm 2.000 vòng/ phút trong 10 phút.

-         Hút huyết thanh bên trên chuyển sang 1 tube khác vô trùng.

-         Máu II: lấy cách mẫu trước 2-3 tuần, nếu bệnh nhân còn sống.

-         Một mẫu máu  ít có giá trị chẩn đoán nhưng có thể để tham khảo. 

  1. Bệnh phẩm mô tử thiết (autopsy/postmortem tissue)

-       Thời điểm lấy: càng sớm càng tốt sau khi chết. 

-        Mô tươi cần lấy: phổi, gan, lách, thận. 

-        Lấy mô ở bờ sang thương, không lấy chỗ mô bị hoại tử hoặc mô bình thường.

-        Cho mỗi loại mô vào lọ riêng chứa môi trường vận chuyển vi rút, ghi rõ trên lọ tên loại mô gì, bảo quản tạm ở  âm 20oC hoặc ngăn đá tủ lạnh trước khi chuyển đến phòng thí nghiệm trong 24 giờ.

4. CÁCH GHI NHÃN VÀ PHIẾU:

-        Dán nhãn trên mỗi lọ BP, ghi mã số, tên gọi của bệnh nhân, tuổi, loại BP (nhất là để phân biệt BP ngoáy họng, ngoáy mũi, ngoáy trực tràng), ngày lấy BP.  Có thể ghi trên nhãn rời, rồi cho vào cùng túi chứa BP.

-        Điền đầy đủ chi tiết vào phiếu bệnh phẩm và phiếu điều tra dịch tễ theo mẫu.  Nếu chuyển nhanh bằng bưu điện phải gói kín các phiếu trong 1 túi nylon.

5. QUY TRÌNH LẤY BỆNH PHẨM:

  1. Ca nghi ngờ :

-        Lấy mẫu ngoáy mũi và ngoáy họng.

-        Nên lấy nhiều lần vào những thời điểm khác nhau thì khả năng bắt được virút càng cao.

  1. Ca âm tính với H5N1 nhưng yếu tố dịch tễ và lâm sàng điển hình

-        Về nguyên tắc xét nghiệm, kết quả âm tính cũng không loại trừ nguyên nhân gây bệnh nếu yếu tố lâm sàng và dịch tễ điển hình.

-        Phải lấy lại bệnh phẩm ngoáy mũi họng (nếu bệnh nhân còn sống) để xét nghiệm lần 2.

  1. Khi có ca H5N1(+) :

-         Lập danh sách và lấy mẫu các người tiếp xúc và các người đối chứng của ca H5N1(+) để theo dõi nếu có trường hợp lây trực tiếp từ người sang người.

  • Người tiếp xúc: là những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân như ở cùng nhà, cùng tiếp xúc với gia cầm hoặc cùng ăn sản phẩm gia cầm bệnh/chết, nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc bệnh nhân.

  • Người  đối chứng: là người khoẻ mạnh có cùng giới tính, cùng tuổi chứng (có thể bằng, nhỏ hơn hoặc lớn hơn 1 năm/tháng tuổi) sống ở cùng tổ/ấp/phường hoặc ở khu vực kế cận nếu không tìm ra đúng đối tượng.(khi có 1 ca bệnh H5N1 dương tính phải chọn 4 ca chứng).

-         Loại mẫu cần lấy:

Lần đầu

-         Ca tiếp xúc: lấy ngoáy họng và máu đông để tách huyết thanh.

-         Ca đối chứng: lấy máu đông để tách huyết thanh (không ngoáy họng).

Lần sau (cách lần đầu 2-3 tuần)

-         Ca tiếp xúc: lấy máu đông để tách huyết thanh (không ngoáy họng).

 

II. HƯỚNG DẪN ĐÓNG GÓI, BẢO QUẢN BỆNH PHẨM: 

-         Dùng khăn giấy hoặc giấy vệ sinh quấn quanh từng ống hoặc lọ.

-         BP, đặt trong 1 túi nylon.

-         (2 lớp), buộc (cột) chặt bằng 2 sợi dây thun khoanh, cho vào 1 hộp cứng để tránh bể vỡ.

-         Các que bông phải đặt trong môi trường chuyên chở vi rút.

-         Các ống BP luôn luôn phải đặt đứng thẳng.

-        Giữ tạm BP ở tuyến cơ sở: +4oC/ < 48 giờ  (phích lạnh+hộp đá ướt, ngăn mát tủ lạnh).

-         Nếu giữ lâu hơn phải để ở –20oC (tủ đông lạnh).

-         Vận chuyển BP: +4O C (phích lạnh).

-         Bảo quản ở phòng thí nghiệm:  -70O C (tủ đông sâu).

-         Không làm đông làm tan băng BP nhiều lần.

-        Các dụng cụ sau khi chứa BP phải tiệt trùng bằng nước sôi > 30 phút (nếu chịu nhiệt) hoặc ngâm vào dung dịch khử khuẩn có Chlorine (Sodium hypochlorite còn gọi là nước Javel) 0,5%, hoặc Chloramine B pha 2- 5% trong 2 giờ.

-        Gửi bệnh phẩm kèm phiếu bệnh phẩm và phiếu điều tra đến Phòng thí nghiệm Vi-rút Hô Hấp,  Viện Pasteur TP.HCM, 167 đường Pasteur, Q3, TP.. HCM,  ĐT: 8 202 878.

 

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419