Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
 CHUYÊN MỤC
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
 

Y TẾ CỘNG ĐỒNG

 

GIÁM SÁT DỊCH TỄ HỌC BỆNH  CÚM GIA CẦM A (H5N1)  Ở VIỆT NAM

. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH CÚM VÀ CÚM GIA CẦM A/H5N1

Virút cúm (Influenza virus) thuộc nhóm Orthomyxoviridae và được chia thành 3 týp A, B và C. Vỏ của virút bản chất là glycoprotein bao gồm 2 kháng nguyên: Kháng nguyên ngưng kết hồng cầu H (Hemaglutinin) và enzim N (Neuraminidase). Có 15 loại kháng nguyên H (H1-H15) và 9 loại kháng nguyên N (N1-N9), những cách tổ hợp khác nhau của hai loại kháng nguyên này tạo nên các phân týp khác nhau của vi rút cúm A.

Trong quá trình lưu hành của virút cúm A trong cộng đồng dân cư, 2 kháng nguyên này, nhất là kháng nguyên H, luôn luôn biến đổi. Những biến đổi nhỏ liên tục gọi là trượt kháng nguyên (antigenic drift) thường gây nên các vụ dịch vừa và nhỏ. Những biến đổi nhỏ dần dần tích lại thành những biến đổi lớn, tạo nên phân týp kháng nguyên mới gọi là gẫy kháng nguyên (antigenic shift). Những phân týp kháng nguyên mới này sẽ gây đại dịch cúm trên toàn cầu.

Bảng 1: Các chủng cúm gây đại dịch trong lịch sử.

Thời kỳ Phân týp kháng nguyên
1889 -  1890 H2N8
1900 -  1903 H3N8
1918 -  1919 H1N1
1933 -  1935 H0N1
1946 -  1947 H1N1
1957 -  1958 H2N2
1968 -  1969 H3N2
1977 -  1978 H1N1

Người ta nhận thấy rằng các đại dịch cúm xảy ra có tính chu kỳ khoảng từ 10 đến 15 năm. Hiện nay các phân týp kháng nguyên của virút cúm A đang lưu hành trên toàn cầu là A/H1N1 và A/H3N2 xen kẽ nhau hoặc một trong hai týp chiếm ưu thế tuỳ từng nơi.                

Các loại gia cầm là ổ chứa tự nhiên của tất cả 15 loại phân týp cúm A hiện đã biết. Năm 1997 vụ dịch cúm gia cầm đầu tiên trên người gây ra do phân týp A/H5N1 xảy ra tại Hồng Kông, làm 18 người mắc và 6 tử vong. Cũng tại Hồng Kông năm 1999, người ta phân lập được chủng cúm A/H9N2. Tháng 2 năm 2003 tại Hà Lan, phân týp H7N7 được xác định là nguyên nhân gây tử vong cho một bác sỹ thú y và 83 người khác mắc bệnh nhẹ.

Kể từ năm 1997, những vụ dịch gây ra bởi vi rút cúm A/H5N1 đã tiếp tục xảy ra tại nhiều nước châu Á và châu Phi bao gồm Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Campuchia, Lào, Inđônêxia, Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi và Việt Nam. Trong đó Hồng Kông, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam là những nước thông báo có dịch cúm xảy ra trên người.

Tuy có thể lây nhiễm cho người nhưng để dẫn đến một đại dịch cúm, vi rút mới phải có khả năng lây truyền dễ dàng từ người sang người. H5N1 và H9N2 đều chưa gây nên đại dịch bởi vì các vi rút này chưa dễ dàng lây truyền từ người sang người khác.Tuy nhiên, với sự biến đổi liên tục về cấu trúc kháng nguyên, sự tái tổ hợp các vật liệu di truyền giữa các vi rút cúm thông thường ở người và vi rút cúm gia cầm thì trong tương lai gần rất có thể sẽ xuất hiện một chủng vi rút cúm mới độc lực cao và có khả năng lây truyền dễ dàng từ người sang người. Tổ chức Y tế Thế giới đã cảnh báo về một đại dịch cúm xảy ra trên người với hàng chục triệu người mắc và từ 2-7 triệu người tử vong khi một chủng vi rút mới như vậy xuất hiện, trong khi vẫn chưa có vác xin phòng bệnh và những biện pháp dự phòng hiệu quả.

I.  GIÁM SÁT DỊCH TỄ CÚM A/H5N1 THƯỜNG XUYÊN:

 

I.1.Tiến hành giám sát thường xuyên : các trường hợp viêm đường hô hấp cấp tính (ARI) và Hội chứng cúm tại địa phương theo định nghĩa của hệ thống giám sát 24 bệnh truyền nhiễm do Bộ Y tế ban hành.

 

I.2.Giám sát trọng điểm: là các khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao như khu vực đang có dịch cúm gia cầm  lưu hành, các ổ dịch cũ. Đối tượng cần quan tâm là nhân viên Y tế, nhân viên Thú y, những người có liên quan đến việc giết mổ, chăn nuôi gia cầm,...

I.3.Giám sát, phát hiện và cách ly ngoài cộng đồng: Tổ chức giám sát phát hiện và cách ly ngoài cộng đồng đặc biệt có ý nghĩa cho việc hạn chế lây lan dịch.

  • Giám sát ca bệnh: dựa trên cơ sở của việc giám sát các trường hợp viêm đường hô hấp thông thường tại cộng đồng, phát hiện sớm ca bệnh, dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán sau:

    • Tiền sử dịch tễ:
      Đã từng tiếp xúc với bệnh nhân, gia cầm bị bệnh, hoặc đi ra từ khu vực đang lưu hành  bệnh dịch cúm gia cầm trong vòng 7 ngày.

    • Biểu hiện lâm sàng:

    • Khởi phát trung bình 1 tuần lễ sau khi tiếp xúc với nguồn lây.

    • Sốt cao đột ngột, sốt liên tục trên 380C, đôi khi rét run, mặt đỏ, mạch nhanh, đau đầu, đau mỏi cơ, ăn kém.

    • Thường ho khan, khó thở, thở nhanh nông, nghe phổi có ran.

    • Chụp X quang phổi có hình ảnh viêm phổi không điển hình, tiến triển nhanh.

    • Xét nghiệm bạch cầu máu ngoại vi thường giảm hơn với bình thường.

  • Tại ổ dịch: nơi đã có bệnh nhân nhập viện về bệnh cúm A/H5N1 phải điều tra đầy đủ đối với người đã tiếp xúc với bệnh nhân và gia cầm bị bệnh. Nhân viên y tế phải có danh sách theo dõi bệnh nhân và diễn biến dịch hàng ngày.

  • Những người tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân cúm A/H5N1 hoặc gia cầm bị bệnh được theo dõi 7 ngày kể từ khi tiếp xúc lần cuối đối với người lớn và 21 ngày đối với trẻ em dưới 15 tuổi. Hàng ngày phải đo nhiệt độ, nếu nhiệt độ trên 38oC hoặc có các biểu hiện lâm sàng khác thường phải đến ngay cơ sở y tế để kiểm tra.

  • Những người được cách ly theo dõi nên được bố trí nơi ăn ngủ riêng, hạn chế đi lại, hạn chế tiếp xúc rộng rãi, thường xuyên mang khẩu trang y tế và khử trùng mũi họng hàng ngày.

  • Tại gia đình, nơi tạm trú hoặc khu vực ổ dịch cần thực hiện triệt để việc khử trùng bằng xử lý bề mặt hoặc xử lý không khí bị ô nhiễm. Các chất thải của người cách ly đều được quản lý và xử lý riêng.

  • Trang trại và chuồng chăn nuôi gia cầm bị bệnh phải được quản lý chặt chẽ và thực hiện xử lý theo chỉ định của cơ quan thú y.

I.4.Chẩn đoán vi sinh và huyết thanh học: sau khi có định hướng chẩn đoán lâm sàng cần phải lấy mẫu bệnh phẩm. Công việc lấy mẫu và xét nghiệm căn nguyên bệnh cúm gia cầm A/H5N1 phải do các nhân viên phòng thí nghiệm chuyên trách thực hiện.Tuy nhiên nhân viên y tế cơ sở cần biết và có thể góp một phần vào việc lấy và vận chuyển mẫu bệnh phẩm tới cơ sở xét nghiệm.

 

 

II. GIÁM SÁT CÚM A (H5N1) TRONG CHIẾN DỊCH TIÊM CHỦNG VẮC XIN CÚM CHO GIA CẦM

   Việc tiêm phòng cho gia cầm sẽ được triển khai trên diện rộng, như vậy sẽ phải huy động tới hàng nghìn nhân viên Thú y và Y tế cơ sở, cùng hạng vạn người chăn nuôi phải tiếp xúc với gia cầm, trong số đó có một tỷ lệ gia cầm hiện đang mang vi rút cúm A (H5N1). Chiến dịch tiêm phòng thực hiện cao điểm trong khoảng 2 tháng, tuy nhiên sẽ được duy trì trong 2 năm  tới (2006-2007) làm cho quá trình giám sát vi rút cúm A (H5N1) trên gia cầm và trên người là hết sức cần thiết.

   Để bảo vệ an toàn sức khoẻ cho cộng đồng, nhất là nhóm người trực tiếp tiếp xúc với gia cầm trong khi triển khai tiêm vắc xin, công tác giám sát bệnh cần tập trung thực hiện:

II.1 Đối tượng cần giám sát:

  • Toàn dân trong khu vực triển khai dự án tiêm vắc xin phòng cúm gia cầm.

  • Những người trực tiếp tham gia tiêm phòng: CB Thú Y và người chăn nuôi gia cầm.

II.2 Thời gian:

Các hoạt động giám sát được thực hiện trong thời gian tiêm phòng vắc xin cho gia cầm và kéo dài tiếp 1 tuần sau mũi tiêm cuối cùng của các đợt tiêm.

II.3. Nội dung giám sát:

II.3.1 Công tác tổ chức:

  • Ban chỉ đạo phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp SARS - A (H5N1) kết hợp với Ban chỉ đạo triển khai tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm, xây dựng kế hoạch, đôn đốc việc thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khoẻ cho con người và giám sát bệnh cúm A (H5N1). Có kế hoạch bảo đảm về nhân lực, hậu cần, tài chính cho hoạt động giám sát, bảo vệ sức khoẻ.

  • Các viện VSDT/Pasteur phối hợp với các địa phương trong khu vực phụ trách tổ chức giám sát, xét nghiệm về vi rút cúm A (H5N1). Kết hợp với Viện Thú y để giám sát, xét nghiệm, tổ chức chỉ đạo hệ thống y tế phối hợp với các Sở Nông nghiệp Phát triển Nông thôn triển khai các hoạt động giám sát tại các địa điểm tiêm vắc xin phòng chống dịch cúm gia cầm.

  • Các đơn vị Y tế dự phòng các tuyến thực hiện các nội dung giám sát trên đây và báo cáo kịp thời tình hình lên tuyến trên theo qui định.

II.3.2 Công tác chuyên môn - kỹ thuật

  • Nhân viên Thú y và cả những người tham gia tiêm phòng được giám sát về sức khoẻ hàng ngày như: các triệu chứng sốt, đau họng, đau ngực, khó thở..

  • Nhân viên Thú y và những người tham gia công tác tiêm phòng phải nắm vững về bệnh cúm A (H5N1), đường lây truyền và cách phòng chống, cùng các công việc cần làm để tự bảo vệ sức khoẻ và bảo vệ cho cộng đồng khi triển khai tiêm chủng.

  • Tại nơi tiêm chủng bố trí đủ hoá chất khử trùng cho người (cồn 700, dung dịch Cloramin B 1%), thuốc nhỏ mũi, súc họng (sulfarin, listerrin, P/S..) để nhân viên tự khử trùng trong và sau khi kết thúc công việc hàng ngày. Người tham gia tiêm phòng cần vệ sinh cá nhân sau mỗi ngày làm việc.

  • Nhân viên triển khai tiêm phòng phải được trang bị bảo vệ cá nhân đầy đủ như khi làm nhiệm vụ tiêu huỷ gia cầm ốm, bao gồm: quần áo bảo hộ, khẩu trang, mũ , kính, găng tay, ủng. Những người không có nhiệm vụ không tập trung tại khu vực tiêm vắc xin phòng bệnh cúm gia cầm.

  • Có kế hoạch chuẩn bị cơ sở điều trị, thu dung điều trị bệnh nhân khi có tình huống theo hướng dẫn chẩn đoán điều trị của Bộ trưởng Bộ Y Tế (Quyết định số 3422/2004/QĐ-BYT ngày 30/ 9/2004 của Bộ y tế về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán, xử trí và phòng lây nhiễm viêm phổi do vi rút).

  • Chuẩn bị hoá chất, vật tư phương tiện phòng chống dịch, xử lý kịp thời ổ dịch theo qui định ban hành kèm theo quyết định số 1812/QĐ-BYT, ngày 23/5/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy trình xử lý ổ dịch cúm A (H5N1).

  • Các đơn vị y tế và cơ quan thú y các cấp trao đổi thường xuyên kịp thời thông tin tình hình dịch bệnh cúm A trên gia cầm và trên người.II

II.3.3. Công tác giám sát huyết thanh và vi rút trên người

  • Những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh cúm A (H5N1) xảy ra trong quá trình triển khai chiến dịch có chỉ định lấy mẫu nhày họng và máu để xét nghiệm thường quy.

  • Các Viện VSDT/Pasteur phối hợp với các cơ quan thú y xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện nghiên cứu, điều tra tình trạng mang vi rút, kháng thể kháng vi rút và các nghiên cứu khác về vi rút cúm A (H5N1) để đánh giá, phát hiện sớm các biến đổi, dự báo kịp thời các tình huống để có giải pháp xử lý kịp thời dịch bệnh trên người cũng như trên gia cầm.

II.3.4  Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục:

     Phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông tuyên truyền đến tận người dân các nội dung về bệnh cúm và các biện pháp phòng ngừa.

 

III. HỆ THỐNG GIÁM SÁT: 

Hiện nay vẫn đang được áp dụng theo hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm gây dịch tại Việt Nam.

 

HỆ THỐNG GIÁM SÁT CÁC BỆNH TRUYỀN NHIỄM

TẠI VIỆT NAM

 

 

IV. CHẾ ĐỘ BÁO CÁO DỊCH CÚM GIA CẦM A (H5N1)

Bệnh dịch cúmA/H5N1 là một loại bệnh dịch mới nguy hiểm, có khả năng  lây truyền từ gia cầm sang người gây tử vong cao. Trong vụ dịch vừa qua tại nước ta tỷ lệ ca chết trên mắc là trên 73%. Ngoài ra, Vi rút cúm A/H5N1 rất có thể đột biến để trở thành đại dịch cúm trên toàn thế giới. Chính vì vậy cần áp dụng chế độ khai báo bệnhbáo cáo dịch khẩn cấp theo Quy chế Thông tin báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch do Bộ Y tế ban hành tháng 12/2002.

4.1.  Trường hợp nghi ngờ cúm A/H5N1:  khi phát hiện từ 01 trường hợp nghi ngờ cúm A/H5N1 trở lên tại địa bàn của mình, y tế cơ sở có trách nhiệm thông báo ngay bằng điện thoại, sau đó bằng văn bản cho y tế cấp trên, đồng thời báo cáo vượt cấp các thông tin có liên quan tới ca bệnh nghi ngờ (Họ tên, tuổi, giới, địa chỉ, nghề nghiệp, tiền sử tiếp xúc dịch tễ, tình trạng bệnh hiện tại, hướng chẩn đoán của y tế cơ sở).

 

4.2Trường hợp chẩn đoán dương tính cúm A/H5N1: sau lần báo cáo đầu tiên, nếu bệnh nhân được xác chẩn là bệnh cúm A/H5N1 và đã được chuyển lên tuyến trên, y tế cơ sở vẫn cần duy trì báo cáo dịch trong vòng ít nhất 7 ngày nữa, nếu không xuất hiện thêm ca bệnh mới. Nếu có thêm ca bệnh mới thì cần duy trì báo cáo cho tới khi chấm dứt vụ dịch (sau 7 ngày kể từ bệnh nhân cuối cùng). Trong nội dung báo cáo tiếp theo cần nêu thêm các biện pháp phòng chống dịch mà cơ sở đã tiến hành cùng với kết quả phòng chống và các đề nghị với cấp trên .

 

 
 

 

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419