Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
 TIN TỨC
TIN NHANH
Hoạt động của Viện
Hội nghị - Hội Thảo
Nghiên cứu khoa học
Tin khác
Phòng xét nghiệm đạt chuẩn ISO
 
 

TIN : TIN NHANH -> Hội nghị - Hội Thảo

NHỮNG THÀNH TÍCH NỔI BẬT VỀ CHƯƠNG TRÌNH TIÊM CHỦNG MỞ RỘNG (11/10/2005)

Chiến dịch tiêm vắc xin thương hàn Việt Nam tại Đồng Tháp

I/. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN – CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ – KHEN THƯỞNG:
Sự hình thành và phát triển của CT-TCMR phía Nam
CT-TCMR phía Nam được thành lập từ năm 1982 cùng với chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy, trực thuộc phòng Dịch tễ (sau đổi thành khoa Y tế Công cộng), Viện Pasteur Tp. HCM. Đến năm 1985 được tách ra thành một chương trình riêng biệt.

Chức năng và nhiệm vụ:
- Quản lý và chỉ đạo thực hiện toàn diện công tác tiêm chủng mở rộng cho khu vực phía nam, đặc biệt là theo dõi tỷ lệ tiêm chủng, giám sát các bệnh trong CT-- - TCMR nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình.
- Thực hiện các đề tài nghiên cứu về đánh giá triển khai và hiệu quả của CT-TCMR tại các tỉnh thành phố phía nam.
- Tham gia giảng dạy và đào tạo về TCMR cho các trường đại học y khoa và trung học y tế của các tỉnh thành phố phía nam.

Khen Thưởng
- 01 bằng khen của Thủ Tướng chính Phủ theo quyết định số 1509 ký ngày 29 tháng 11 năm 2001.
- 15 bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế từ năm 1990 đến 2004

II/. NHỮNG THÀNH TÍCH NỔI BẬT VỀ TCMR
1. Thực hiện các chỉ tiêu quốc gia về TCMR
Trong những năm đầu triển khai thí điểm chương trình TCMR tại khu vực phía Nam từ 1981 đến 1984 ở 2 phường của Tp. HCM và 2 xã, phường của tỉnh Tiền Giang. Sau đó, địa bàn triển khai tiêm chủng đã được mở rộng dần hàng năm cho đến cuối năm 1984 đạt 40% các xã, phường trên toàn khu vực. Ban chủ nhiệm CT-TCMR phía Nam lúc này do bác sĩ Cao Minh Tân, Viện trưởng và bác sĩ Nguyễn Dũng Hiếu, Viện phó chịu trách nhiệm và trực tiếp chỉ đạo các hoạt động của nhóm TCMR và phòng chống tiêu chảy. Chúng tôi đã thực hiện phương châm cùng làm cùng học với địa phương, tham gia trực tiếp vào các công tác chuẩn bị triển khai cho các địa bàn mới, quản lý đối tượng, thực hiện tiêm chủng, giám sát hỗ trợ việc ghi chép sổ sách theo dõi tiêm chủng và bệnh tật trẻ em để cải thiện các biểu mẫu, sổ sách trong công tác quản lý chương trình.
Đến cuối năm 1985, chương trình TCMR đã được phát động và đẩy mạnh triển khai trên toàn quốc với 6 loại vắc xin phòng ngừa các bệnh lao (BCG), bạch hầu, ho gà, uốn ván (DPT), bại liệt (OPV) và sởi nhằm tạo mọi cơ hội cho trẻ em Việt Nam được tiêm chủng phòng ngừa bệnh tật. Chiến lược tiêm chủng được tăng cường bằng cách giảm dần địa bàn tổ chức tiêm chủng chiến dịch hàng năm và tăng nhanh số địa phương thực hiện tiêm chủng định kỳ và tiêm chủng thường xuyên hàng tháng theo lịch tiêm chủng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư, Tiến sĩ Hạ Bá Khiêm, Viện trưởng, chủ nhiệm CT- TCMR phía Nam, chương trình đã được xây dựng ở các tuyến thành một chương trình độc lập có đủ khả năng phối hợp hoạt động với các chương trình và dự án chăm sóc sức khoẻ khác. Nó được triển khai theo ba hình thức A, B và C từ năm 1985 đến 1993.


Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin cho trẻ em dưới 1 tăng cao nhanh chóng cho đến năm 1993 đạt 90% trên toàn khu vực và được duy trì trong suốt 12 năm qua.

Đồng thời, tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm trẻ em thuộc CT-TCMR giảm đáng kể so với trước khi triển khai tiêm chủng.

Từ năm 1991, chương trình thanh toán bệnh bại liệt cũng bắt đầu được triển khai thí điểm tại một số tỉnh thành phố phía Nam với nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường hệ thống giám sát phát hiện bệnh bại liệt cũng như tổ chức thực hiện các chiến dịch cho trẻ dưới 3 tuổi được uống đủ 2 liều vắc xin OPV. Sau 2 năm triển khai thí điểm, tình hình bệnh bại liệt giảm rõ rệt tại các địa phương trên. Vì vậy, năm 1993 chương trình thanh toán bệnh Bại liệt đã được triển khai trên toàn quốc với việc tổ chức thực hiện các chiến dịch “Những ngày tiêm chủng toàn quốc” nhằm cho trẻ em dưới 5 tuổi được uống đủ hai liều vắc xin OPV qua 2 vòng triển khai, ngoài ra có thể kết hợp tiêm các vắc xin trẻ em, tiêm VAT cho phụ nữ có thai và cho uống Vitamine A. Chúng tôi đã lập lên các kế hoạch triển khai cụ thể và chi tiết, đề ra được các biện pháp kiểm tra, nắm bắt và quản lý đối tượng phù hợp, kịp thời như quản lý theo năm sinh, theo địa bàn triển khai điểm uống để các địa phương dễ dàng trong việc phát hiện những trẻ bị bỏ sót (chúng tôi gọi là biện pháp kiểm tra tìm ra hiện tượng trái ớt). Cùng lúc, chúng tôi xây dựng và tăng cường hệ thống giám sát liệt mềm cấp/bại liệt tại các tuyến, đặc biệt tại bệnh viện. Đến năm 1996, đứng trước tình hình một số trẻ sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, vùng giáp ranh giữa các xã, huyện, tỉnh hoặc sống trên ghe xuồng lưu động trên sông cùng cha mẹ vẫn không được uống vắc xin OPV qua các chiến dịch trước, chúng tôi đã đề xuất triển khai một chiến lược mới “Đội tiêm chủng đặc nhiệm” nhằm tiếp cận và cho các trẻ em ở các địa bàn trên được uống vắc xin OPV. Chiến lược này đã được chương trình TCMR quốc gia áp dụng tại các vùng khó khăn và trọng điểm trong cả nước cho chiến dịch các năm sau. Kết quả là từ năm 1997 đến nay, tại khu vực phía nam không phát hiện được một ca bại liệt do vi rút hoang dại nào gây ra, góp phần cùng cả nước được công nhận là quốc gia đã thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000.

Cũng trong năm 1991, chương trình loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh được triển khai bằng cách tổ chức tiêm cho phụ nữ có thai, từ năm 1992, triển khai tại 1 huyện điểm và đến cuối năm 2004 tỷ lệ huyện triển khai đạt 70%. Chúng tôi đã xây dựng và tăng cường hệ thống giám sát chết sơ sinh/uốn ván sơ sinh vào trong hệ thống giám sát bệnh LMC/bại liệt, nâng cao chất lượng và tỷ lệ tiêm đủ liều VAT cho phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi từ 15-35 và giảm tỷ lệ mắc bệnh uốn ván sơ sinh.

Từ năm 1997, CT-TCMR quốc gia bắt đầu triển khai 4 vắc xin mới là viêm gan B, viêm não Nhật Bản, tả và thương hàn tại những vùng nguy cơ cao, Đồng thời, đề xướng chương trình loại trừ sởi vào năm 2010 bằng cách xây dựng hệ thống giám sát sởi tin cậy lồng ghép với giám sát LMC/BL, CSS/UVSS và tổ chức chiến dịch tiêm sởi mũi hai cho trẻ từ 9 tháng đến 10 tuổi tại 2 tỉnh thí điểm vào năm 2000 cũng như cho toàn khu vực phía nam vào năm 2003. Chúng tôi đã lên kế hoạch rất cụ thể, thực hiện công tác chuẩn bị chu đáo và triển khai chiến dịch với yêu cầu an toàn, chất lượng và đạt mục tiêu bằng cách thành lập các đội cấp cứu phòng chống sốc, trang bị các loại thuốc và phương tiện chống sốc tối thiểu cho từng điểm tiêm. Tỷ lệ tiêm sởi mũi 2 đạt > 99% và sau chiến dịch các trường hợp mắc sởi và các vụ dịch sởi giảm rõ rệt. Đến năm 2004 chỉ còn một ca sởi được xác định bằng xét nghiệm.
Ngoài ra, để đảm bảo đạt được các mục tiêu TCMR đề ra hàng năm, chúng tôi đã tham gia trực tiếp vào các công tác sau:
- Tập huấn và hội thảo về quản lý TCMR, triển khai các chiến dịch NNTCTQ, tiêm các vắc xin mới như viêm gan B, viêm não Nhật Bản, thương hàn và tả, đặc biệt là tiêm vắc xin viêm gan B, chương trình loại trừ UVSS cho các huyện điểm, xây dựng hệ thống giám sát các bệnh TCMR đặc biệt là giám sát liệt mềm cấp/bại liệt, chết sơ sinh/uốn ván sơ sinh, sởi và phản ứng sau tiêm chủng, quản lý vắc xin và dây chuyền lạnh, thống kê dịch tễ và sử dụng phần mềm EPI INFO trong việc phân tích các số liệu TCMR nhằm cập nhật, nâng cao kiến thức và khả năng thực hiện CT-TCMR cho các tuyến.
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát hỗ trợ địa phương trong việc triển khai công tác TCMR bằng cách cầm tay chỉ việc nhằm giúp địa phương khắc phục ngay những vấn đề tồn tại.
- Tiếp nhận, bảo quản và phân phối vắc xin, dụng cụ tiêm chủng và các trang bị dây chuyền lạnh kịp thời, an toàn. Tránh hao phí đến mức tối đa.
- Triển khai các hoạt động phòng chống dịch cho các bệnh thuộc CT-TCMR như bại liệt, sởi, UVSS, bạch hầu, ho gà, tả nhằm giúp các địa phương nhanh chóng khắc phục hậu quả bệnh dịch và đảm bảo sức khoẻ cho người dân.
- Tham gia và tổ chức các đợt đánh giá công tác TCMR tại các địa phương nhằm xác định tỷ lệ tiêm chủng thật sự, phát hiện những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng và đưa ra các biện pháp giải quyết.
- Thu thập, phân tích số liệu TCMR và tổ chức các hội nghị giao ban, tổng kết TCMR hàng quý, hàng năm.
- Chỉ đạo công tác tuyên truyền, truyền thông cho các tuyến nhằm cung cấp các thông tin về TCMR để nâng cao kiến thức của mọi người

2. Nghiên cứu khoa học và sáng kiến cải tiến kỹ thuật:
Tham gia thực hiện 10 đề tài nghiên cứu về TCMR trên các lĩnh vực tỷ lệ tiêm chủng, bệnh uốn ván sơ sinh, chiến dịch tiêm sởi mũi 2, triển khai tiêm viêm gan B, bệnh bạch hầu, bệnh Rubella và bệnh thương hàn.
Năm 1993: triển khai điều tra tỷ lệ tiêm chủng cho toàn Miền Nam (19 tỉnh)
Năm 1996: triển khai chiến lược “Đội tiêm chủng đặc nhiệm”
Năm 1997, được sự đồng ý của Ban Giám đốc Viện, sự hỗ trợ của TCYTTG, chúng tôi đã thiết lập được mạng Pasteur Net và vi tính hoá hệ thống thu thập, tổng hợp số liệu TCMR hàng tháng từ 19 tỉnh thành phía nam nhằm phân tích tình hình tiêm chủng nhanh chóng, chính xác và đầy đủ để có biện pháp can thiệp kịp thời. Hiện nay, mạng vi tính này đã được nâng cấp, triển khai cho nhiều chương trình, dự án khác trong viện, là nơi trao đổi thông tin giữa viện và các địa phương phía nam. Đây cũng là mạng vi tính duy nhất phục vụ cho công tác TCMR, SXH và phòng chống dịch hữu hiệu trong cả nước.
Năm 2004: đánh giá hiệu quả chiến dịch tiêm sởi mũi hai, khu vực phía nam

3. Chỉ đạo tuyến
Có kế hoạch giám sát hỗ trợ và chỉ đạo trực tiếp tại các địa phương hàng tháng. Hướng dẫn trực tiếp công tác quản lý và chuyên môn kỹ thuật của tiêm chủng cho các tuyến. Hỗ trợ kinh phí triển khai một số hoạt động phát sinh trong năm.
Tổ chức mô hình xã hội hoá cao trong công tác tiêm chủng tại tất cả các tỉnh thành phố cho đến các ấp. Tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức quốc tế để đưa công tác tiêm chủng cho bà mẹ và trẻ em vào chương trình hành động của mỗi đơn vị, nòng cốt là ngành y tế để tham mưu thiết thực cho các cấp chính quyền, đoàn thể.

Viện Pasteur Tp. Hồ Chí Minh

Trở về  
Các tin đã đưa
 HỘI NGHỊ ĐÁNH GIÁ 1 NĂM CỦA “DỰ ÁN CỘNG ĐỒNG PHÒNG CHỐNG SXH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG – GIAI ĐOẠN III: 3/2004-3/2007: ĐÃ TỔ CHỨC TẠI VIỆN PASTEUR TP.HCM NGÀY 7/7/2005 (11/10/2005)
 
Ảnh & Sự kiện

Hội nghị khoa học thường niên do Viện Pasteur TP.HCM tổ chức vào ngày 11/11/2009
Nhà tài trợ chính cho hoạt động website
Viện Pasteur TP. HCM

Viện Pasteur Tp.Hồ Chí Minh đang chờ quyết định của Bộ KHCN-MT để triển khai 2 đề tài nghiên cứu cấp nhà nước:

1) Nghiên cứu điểm lâm sàng, dịch tễ học, virút học của cúm A/H1N1 đại dịch 2009 ở các tỉnh Nam bộ và đề xuất các giải pháp phòng chống dịch(2009 - 2010).

2) Nghiên cứu chế tạo kit virút cúm A/H1N1 bằng kỹ thuật RT-PCR(2009-2010).

 



 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
© 2004 Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh - Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419
Tổng biên tập: Trần Ngọc Hữu - Giấy phép được cấp bởi: BỘ VĂN HÓA - THÔNG TIN, số: 304/GP-BC, ngày: 01/07/2004.