|
Non-polio enteroviruses thường gặp và phân bố khắp nơi trên thế giới . Dù thường không biểu hiện triệu chứng hoặc chỉ thoáng qua, nhưng những virus này có liện quan đến các vụ dịch thỉnh thoảng vẫn xảy ra với một số lượng lớn bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng và đôi khi gây tử vong.
Hội CHứNG LÂM SÀNG
Sự nhân lên của virus bắt đầu từ đường tiêu hoá hoặc đường hô hấp và khi virus đã hiện diện trong máu thì có thể sẽ gây nhiễm các mô và tổ chức khác gây ra bệnh cảnh đa dạng.
Trong thực tế thì đa số các ca nhiễm không có biểu hiện triệu chứng hoặc rất nhẹ, với biểu hiện không đặc hiệu thông thường là sốt . Những biểu hiện khác gồm nổi ban, mụn dộp nước và viêm miệng họng, triệu chứng bệnh hô hấp cấp, viêm kết mạc, viêm màng não không nhiễm trùng, viêm não, viêm cơ tim màng tim, và đôi khi gây liệt . Nhiều loại virus đường ruột có liên quan đến các hội chứng đặc hiệu như virus đường ruột người nhóm B (viruses within the Human enterovirus B species ) thường gây ra viêm màng não hoặc viêm màng-cơ tim ; và virus đường ruột người nhóm A (Human enterovirus A species) gây bệnh tay Chân Miệng (nổi ban trong lòng bàn tay , lòng bàn chân, có mụn dộp nước và viêm niêm mạc miệng.
CHẨN ĐOÁN
Về mặt lâm sàng khó có thể phân biệt được tác nhân đặc hiệu gây nhiễm. Chẩn đoán non-polio enterovirus phải cần có phòng xét nghiệm chuyên biệt. Chẩn đoán sẽ dựa vào sự hiện diện virus có trong mẫu phết họng , mẫu phân, nhưng thuyết phục hơn là bệnh phẩm lấy từ mô cơ quan bị virus tác động như dịch não tuỷ (CSF), sinh thiết mô, vết loét trên da. Khi có gia tăng bốn lần kháng thể trung hoà trong mẫu bệnh phẩm kỳ cấp tính và kỳ hồi phục là bằng chứng tốt chứng minh mới nhiễm bệnh.
DỊCH TỄ HỌC
Enteroviruses gây nhiễm cho người được tìm thấy khắp nơi trên thế giới và con người là được biết là ký chủ tự nhiên duy nhất. Trẻ nhỏ dễ cảm nhiễm. tại các quốc gia chậm phát triển, trẻ em có thể dễ bị nhiễm trong thời kỳ sơ sinh, trong khi tại các nước phát triển thì hơn lần nhiễm đầu tiên thường ở tuổi vị thành niên. Nam thường biểu hiện lâm sàng nhiều hơn nữ. Đường lây thường là qua phân –miệng hoặc đường hô hấp khi bệnh có bểiu hiện triệu chứng hô hấp. Virus được bài tiết ra trong phân trong nhiều tuần lễ . Enteroviruses được phát hiện có trong nước, đất, rau, thuỷ sản tôm cua, sò.. và lây truyền trong cộng đồng qua tiếp xúc với thực phẩm, nước bị vấy nhiễm.
Tính chất dịch tễ thay đổi theo vùng địa lý và khí hậu, nhưng tỉ lệ mắc mới cao vào những tháng hè thu và trong vùng nhiệt đới thì số mắc duy trì suốt năm. Các vụ dịch bệnh TCM có liên quan đến nhiễm enterovirus đã được báo cáo tại Taiwan, China (1998), và Malaysia (1997). Các vụ dịch viêm màng não không nhiễm trùng có liên quan đến nhiễm enterovirus trước đây cũng ghi nhận tại dãy Gaza (1997) và Cyprus (1996).
ĐIỀU TRỊ
Hiện chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu cho nhiễm enterovirus. Điều trị tập trung vào sử lý các biến chứng (ví dụ : viêm màng não, loạn nhịp tim, và suy tim). Tiêm tĩnh mạch globulin miễn dịch có thể dùng nhằm ngăn ngừa bệnh cảnh nặng đối với những ca suy giảm miễn dịch hoặc đối với những ca có đe doạ tính mạng.
KIỂM SOÁT & PHÒNG CHỐNG
Lây nhiễm enterovirus sẽ gia tăng trong những nơi có sinh sống đông đúc , điều kiện vệ sinh kém. Biện pháp phòng chống hữu hiệu là cải thiện tình trạng vệ sinh , sinh hoạt. Rửa tay sạch thường xuyên là biện pháp tránh nhiễm tốt, nhất là sau khi thay tã hoặc sau khi đi toilet; bảo đảm khử trùng bề mặt quần áo vấy nhiễm bằng thuốc tẩy sẽ ngăn ngừa nhiễm virus.
Viruses này kháng với nhiều loại thuốc sát trùng do vậy cần dùng các thuốc khử trùng có chứa chlor hoặc iod. Trong các vụ dịch đã xác định, có thể khuyến cáo đóng cửa trường học, nhà trẻ để làm giảm lây nhiễm trong nhóm trẻ nhỏ. Không cần thiết phải hạn chế đi lại hoặc buôn bán.
WHO
|