ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC THÁI ĐỘ HÀNH VI CỦA PHỤ NỮ TRONG VIỆC CHÍCH VIÊM GAN SIÊU VI B TẠI LONG AN – 2002

Phạm Kim Sắc*, Nguyễn Thị Minh Phượng*, Nguyễn Thị Thanh Ha*,
Hồ Vĩnh Thắng*  Ngô Văn Hoàng**, Đoàn Thị Kim Liên**

 

TÓM TẮT

Qua cuộc điều tra KAP về chủng ngừa VGB mô tả cắt ngang và phân tích với phương pháp chọn mẫu 60 cụm trên 838 đối tượng bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại Long An năm 2002. Đa số các bà mẹ có kiến thức chung về sự nguy hiểm của bệnh VGB (82,6%), về lư do tại sao phải tiêm ngừa (77,1%), về địa điểm tiêm ngừa (92,2%), và tác dụng phụ của vắc-xin VGB (72,6%). Ngược lại bà mẹ có ít KT về đường lây (15,6%), lịch chủng ngừa (24,2%), và thời gian MD sau chủng ngừa đủ liều và đúng lịch (13,0%). Thái độ các bà mẹ chấp nhận sự cần thiết phải chủng ngừa (90,5%), sự thuận tiện của điểm tiêm ngừa (98,3%), và tiếp tục tiêm ngừa dù lần trước tiêm ngừa cháu có tác dụng phụ (99,8%) rất cao. Tuy nhiên, thực hành chủng ngừa đúng lịch lại thấp (30,5%). Các yếu tố nơi cư trú của bà mẹ (bà mẹ ở xă thực hành đúng hơn ở khu vực trung tâm 2,5 lần), tuổi của bà mẹ (bà mẹ trên 30 tuổi thực hành đúng hơn 2,38 lần) cũng như KT về điểm tiêm ngừa (có KT về điểm tiêm ngừa thực hành đúng hơn 3,7 lần) có ảnh hưởng đến thực hành chủng ngừa VGB đúng lịch. Bên cạnh đó, nguồn thông tin được các bà mẹ tin tưởng nhất là từ CBYT (82,8%), kế đó là từ ti vi (22,3%).

Nghiên cứu đă nêu rơ những vấn đề c̣n khiếm khuyết trong giáo dục sức khỏe về bệnh VGB nói riêng và chương tŕnh TCMR nói chung. Để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng và các bà mẹ thực hành đúng lịch hơn, CT.TCMRQG cần cải thiện hơn về h́nh thức lẫn nội dung giáo dục sức khỏe. Đặc biệt, nội dung ưu tiên là địa điểm tiêm ngừa trong CT.TCMRQG và những đối tượng ưu tiên là bà mẹ sống tại các phường và thị trấn, bà mẹ trẻ từ 30 tuổi trở xuống.

 

[Trở về]

 

Copyright 2003 by Pasteur Institute In HCM, All rights reserved. Contact us : pasteur@pasteur-hcm.org.vn
167 Pasteur Street, District 3, HoChiMinh City, Vietnam. Tel : (84-8) 8200739 - Fax : (84-8) 8231419.