THỬ NGHIỆM MỘT PHƯƠNG PHÁP ƯỚC TÍNH VÀ DỰ BÁO NHIỄM HIV/AIDS
DỰA VÀO CÁC MÔ HÌNH LÂY TRUYỀN

 

Nguyễn Thị Thanh Thủy, Trần Phúc Hậu, Nguyễn Vũ Thượng, Hạ Bá Khiêm,

Ðỗ Hồng Ngọc*, Nguyễn Văn Thục**, Trương Xuân Liên***,

Viện Pasteur TPHCM và *Trung Tâm Thông Tin và Giáo Dục Sức khỏe TPHCM,

**Bệnh viện Da Liễu TPHCM, ***ủy Ban AIDS TPHCM

 

Giới thiệu:

Những nỗ lực trong việc ước tính và dự báo nhiễm HIV đã được tiến hành ở Việt Nam. Nghiên cứu thử nghiệm này áp dụng một phương pháp có tên gọi là NESDB do Bộ Phận Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Quốc Gia Thái Lan (National Social and Economic Development Board) thiết kế để ước tính số mới nhiễm HIV có xét đến các yếu tố về hành vi, và để tìm hiểu tác động của việc thay đổi hành vi trên tiến triển của dịch. Nghiên cứu này có thể giúp định hướng cho các biện pháp can thiệp.

Phương pháp:

Sử dụng mô hình đơn giản mô phỏng theo các con đường lây truyền của HIV (quan hệ tình dục (QHTD); dùng chung bơm kim tiêm; mẹ sang con) để tính số mới nhiễm (SMN) HIV trong năm 1997 ở TPHCM. SMN này được đưa vào phần mềm Epimodel để tính số nhiễm HIV hiện hành. Ba bức tranh dự báo dựa trên tác động của 3 mức độ can thiệp trên hành vi: không can thiệp, can thiệp ở mức độ trung bình và can thiệp ở mức độ cao.

SMN được trình bày trên các quần thể chưa bị nhiễm. SMN nam được tính toán dựa trên số nam giới 15-49 tuổi có QHTD với gái mại dâm (GMD) bị nhiễm mà không sử dụng bao cao su (BCS) và dựa trên số nam giới chích ma túy (CMT) dùng chung bơm kim tiêm với những người chích ma túy bị nhiễm. SMN ở nữ được tính dựa trên số GMD có QHTD với các khách hàng bị nhiễm mà không dùng BCS, những phụ nữ có QHTD với chồng bị nhiễm và những phụ nữ CMT dùng chung bơm kim tiêm với những người CMT bị nhiễm khác. SMN ở trẻ sơ sinh là những trẻ sinh ra từ những phụ nữ bị nhiễm. Chúng tôi sử dụng xác suất lây nhiễm (XSLN) từ các nghiên cứu khác (chủ yếu ở Thái Lan) để tính toán. Các số liệu đã có và các kết quả từ những khảo sát bổ sung được sử dụng như những thông số đầu vào.

Kết quả:

Trong năm 1997, ước tính có 3.953 ca nhiễm HIV mới và 14.470 ca nhiễm HIV hiện hành. Dữ liệu nền về các hành vi nguy cơ chính được sử dụng trong ước tính này là: 26% nam giới có lui tới với GMD, 42% đàn ông và 58% GMD không sử dụng BCS thường xuyên, 78% người CMT dùng chung bơm kim tiêm. SMN xảy ra chủ yếu do QHTD khác giới (64%); điều này được xem là do quần thể hoạt động tình dục là quần thể dân cư rộng lớn. Trong số mới nhiễm qua đường tình dục khác giới này, nam chiếm 62,2%. Ở đàn ông có QHTD khác giới, nếu áp dụng các biện pháp can thiệp ở mức độ trung bình để làm giảm tần suất đến với GMD còn 20%, tần suất dùng BCS không thường xuyên là 30% vào năm 2000, với giả định rằng các yếu tố khác vẫn phát triển tự nhiên, trên lý thuyết SMN sẽ giảm đi được 45% nếu so sánh với bức tranh nền không can thiệp của năm này. SMN ở phụ nữ (không phải GMD) phụ thuộc chủ yếu vào tỉ lệ hiện nhiễm (TLHN) HIV của chồng hay bạn tình của họ. SMN ở GMD phản ảnh việc sử dụng BCS và TLHN HIV ở các khách hàng nam giới của họ. Hành vi dùng chung BKT và TLHN HIV ở người CMT góp phần chính yếu vào việc gây ra các ca nhiễm mới ở người CMT. Số nhiễm mới phát hiện và báo cáo trong năm 1997 của TPHCM là 782 phản ảnh 20% (tỉ số: 1/5) của SMN ước tính là 3.957 từ nghiên cứu này. So với ước tính của quốc gia trước đây về số nhiễm hiện hành HIV ở TPHCM (12.261; mức can thiệp trung bình) thì số liệu của nghiên cứu này cao hơn.

Kết luận:

Như bất cứ mô hình nào khác, phương pháp này có những hạn chế vì dựa trên nhiều ước tính và giả định, vì nhiều đường lan truyền có thể cùng phối hợp trên thực tế, và một số dữ liệu không có sẵn hoặc chưa đáng tin cậy. Do đó chú ý nghiên cứu thêm về hành vi cũng như về XSLN. Cho dù có những hành vi kể trên, nghiên cứu này đã cho thấy vai trò quan trọng của một số hành vi nguy cơ có liên quan đến tiến triển dịch (như việc lui tới với GMD; khách hàng và GMD không sử dụng BCS thường xuyên; dùng chung bơm kim tiêm khi chích ma túy) là những hành vi có thể can thiệp được để làm giảm các ca nhiễm mới trong tương lai. Các định hướng phòng chống nhiễm HIV cần tập trung vào các hành vi nguy cơ vừa nêu này.

 

[Trở về]

 

 

Copyright 2003 by Pasteur Institute In HCM, All rights reserved. Contact us : pasteur@pasteur-hcm.org.vn
167 Pasteur Street, District 3, HoChiMinh City, Vietnam. Tel : (84-8) 8200739 - Fax : (84-8) 8231419.