HÀNH VI TÌNH DỤC NGUY CƠ CAO CÓ LIÊN QUAN VỚI NHIỄM HIV
TRÊN NHÓM PHỤ NỮ LÀM VIỆC TRONG CÁC DỊCH VỤ GIẢI TRÍ
TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM

 

Nguyễn Thị Thanh Thủy*, Nguyễn Xuân Hoan**, Trần Thị Thanh**,
Võ Tuyết Nhung*, Trần Kim Phượng*, Trần Phúc Hậu* và Hạ Bá Khiêm*
.

* Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh

** Trung tâm Y học dự phòng Vũng tàu

 

Tóm tắt:

Chúng tôi đã đánh giá tỉ lệ hiện nhiễm HIV và các bệnh lây qua đường tình dục (BLQÐTD) khác cùng các yếu tố có tương quan với hành vi tình dục có nguy cơ ở phụ nữ làm việc tại các dịch vụ như quầy rượu bia của các nhà hàng khách sạn, quán cà phê đèn mờ, các phòng mát-xa, v.v.Phương pháp được sử dụng là phỏng vấn trực tiếp (face-to-face interview) và xét nghiệm huyết thanh học. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 500 đối tượng được chọn ngẫu nhiên từ các dịch vụ nói trên ở một thành phố du lịch trong một thời khoảng 2 tháng vào cuối năm 1996.

Trong 500 đối tượng nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy:

Tỉ lệ hiện nhiễm HIV: 0,4% (W.Blot)

Tỉ lệ Giang mai (+) trong huyết thanh: 4,2% (TPHA)

Tỉ lệ có HbSAg trong huyết thanh: 10,6% (ELISA).

 Trong 266 phụ nữ khai có quan hệ tình dục (QHTD) trong năm vừa qua thì:

70% có bạn tình không thường xuyên (BTKTX được định nghĩa là có quan hệ kéo dài không quá 12 tháng); 46% có nhiều hơn 1 bạn tình.

Những đối tượng sau đây thường có tiền sử mắc 1 BLQÐTD hơn những đối tượng khác (p < 0,05):

Phụ nữ có QHTD lần đầu < 17 tuổi (40,7% so với 22,3%)

Phụ nữ có QHTD không thường xuyên (32,6% so với 13,4%)

Phụ nữ có nhiều hơn 5 bạn tình trong năm vừa qua (42,8% so với 21,7%)

Huyết thanh Giang mai (+) chiếm tỷ lệ cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê ở những phụ nữ có bạn tình không thường xuyên (7% so với 1,2%).

Phân tích tương quan hồi quy đa biến cho thấy các yếu tố như: phụ nữ có QHTD sớm (<17 tuổi), làm việc tại các quán bia rượu hay tiệm giải khát, mới hành nghề < 6tháng, thu nhập bình quân cao >100 đô la Mỹ/tháng và trong bệnh sử có BLQÐTD, thì có liên quan có ý nghĩa với việc QHTD không thường xuyên (OR lần lượt là 7,9; 4,9; 4,1; 2,5 và 3,2). Những người có nhiều bạn tình (>5) thường là những người độc thân, và làm việc tại các quán rượu bia hay tiệm cà phê đèn mờ (OR lần lượt là 4 và 9). Cạnh đó, những đối tượng có nhiều bạn tình cũng là những người có thu nhập cao và khách hàng của họ thì thường ở trong tình trạng say xỉn hoặc ở độ tuổi dưới 40 (OR lần lượt là 7,6; 5 và 4). Ở những phụ nữ có QHTD không thường xuyên hoặc những phụ nữ có nhiều hơn 1 bạn tình thì tỷ lệ dùng bao cao su không liên tục là 47%.

Ðiều kiện , kinh tế-xã hội, nhân khẩu học và một số hành vi như QHTD sớm, độc thân, tuổi trẻtrình độ văn hóa thấp, phục vụ ở các quán bia rượu, quán giải khát và khách hàng ở lứa tuổi trẻ đã được chứng minh là các yếu tố quyết định chính của các hành vi tình dục có nguy cơ cao cho sự lây nhiễm HIV/BLQÐTD. QHTD không thường xuyên và có nhiều bạn tình là yếu tố nguy cơ của nhiễm các BLQÐTDD. Việc sử dụng BCS ở những phụ nữ có hoạt động tình dục có nguy cơ cao nhiễm HIV cần được giám sát và cải tiến bằng các biện pháp can thiệp thích hợp nhằm làm giảm lây nhiễm HIV/BLQÐTD.

 

[Trở về]

 

 

Copyright 2003 by Pasteur Institute In HCM, All rights reserved. Contact us : pasteur@pasteur-hcm.org.vn
167 Pasteur Street, District 3, HoChiMinh City, Vietnam. Tel : (84-8) 8200739 - Fax : (84-8) 8231419.