Nguyễn Thị Nguyệt, Phẩm Minh Thu, Phan Thu Ḍng, Trương Thị Xuân Liên
Viện Pasteur TP. HCM
150 mẫu thịt gà tại các cơ sở giết mổ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nhiễm các vi khuẩn gây bệnh như Salmonella, Campylobacter, Enterococci, E. coli. Coù tỷ lệ nhiễm như sau: 98% mẫu nhiễm E. coli, 16% mẫu nhiễm Campylobacter, 29,3% Salmonella và 9,3% Enterococci kháng Vancomycin.
Các chủng vi khuẩn này có tính kháng kháng sinh cao và đề kháng đồng thời từ 2 đến 14 loại kháng sinh khác nhau. Vi khuẩn E. coli có tỷ lệ kháng Amoxicilline (90,5%), Ciprofloxacin (86,4%) và 85% các kháng sinh Ticarcillin, Trimethoprime-sulfaméthoxazol và Norfloxacine. Salmonella spp. có tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn E. coli nhưng kháng cũng khá cao với 6 loại kháng sinh: Tetracyclin và Ac Nalidixique (82,4%), Amoxicillin (76,5%), Sulfonamide (64,7%), Chloramphenicol (58,8%) và Cotrimoxazole/Bactrim (52,9%). Salmonella spp. có tỷ lệ kháng thấp với Céfoxitine (5,9%), Gentamicine và Céfalotine (23,5%). Đặc biệt, chưa phát hiện vi khuẩn này kháng với Céfotaxime và Ciprofloxacin. Đa số các chủng Campylobacter phân lập được đều kháng ít nhất 1 loại kháng sinh. Campylobacter kháng Cefalotine (94,8%), Ciprofloxacine (80,2%), Ac Nalidixique (77,1%); và kháng trên 26% các kháng sinh Amoxicilline, Gentamicin, Erythromycine và Azithromycine. Vi khuẩn Enterococci kháng vancomycin chiếm tỷ lệ thấp 9,3%.
Sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh đă và đang là mối quan tâm của thế giới. Hiện nay, trong chăn nuôi việc sử dụng không hợp lư, cũng như lạm dụng kháng sinh đă dẫn đến tồn dư lượng kháng sinh trong thịt, đáng chú ư là sự gia tăng khả năng kháng thuốc của các vi khuẩn gây bệnh như Salmonella, Campylobacter, Enterococci, E. coli…. Con người sẽ bị nhiễm vi khuẩn kháng thuốc này qua chuỗi thực phẩm, đặc biệt từ nguồn thực phẩm nhiễm [5]. Ước tính có 50% các vi khuẩn phân lập được từ thịt gà thường kháng ít nhất 2 loại kháng sinh (5). Canada (2003) có 84% E. coli, 72% Campylobacter, 41% Salmonella phân lập từ thịt gà kháng 2 loại kháng sinh trở lên trong đó có Ciprofloxacin và Cephalosporin [6]. Ở Hàn Quốc 594 chủng Enterococci phân lập từ thịt gà kháng hầu hết với các loại kháng sinh thông thường [4].
Ở nước ta, sự kháng thuốc của vi khuẩn trong bệnh phẩm được nghiên cứu khá nhiều nhưng trong thực phẩm vấn đề này vẫn c̣n hạn chế. Do đó, phân lập vi khuẩn gây bệnh từ thịt gà tươi sống, đánh giá hiện trạng và xác định khả năng kháng thuốc của chúng là điều cần thiết, nhằm cung cấp thêm thông tin về sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh có trong thực phẩm và góp phần vào chiến lược định hướng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.
- Phân lập và xác định tỷ lệ nhiễm của một số vi khuẩn thường gặp trong thịt gà gồm: E. coli, Salmonella, Campylobacter, Enterorococci kháng Vancomycin tại các cơ giết mổ gà tại TP. HCM.
- Xác định tỷ lệ kháng các loại kháng sinh của từng chủng vi khuẩn được phân lập.
- Mẫu thử: 150 mẫu thịt gà được lấy tại 3 cơ sở giết mổ trên địa bàn TP. HCM (Q. B́nh Thạnh, Q. G̣ Vấp, Q. Tân B́nh) trong thời gian từ tháng 12/2005 đến tháng 09/2006.
- Sử dụng môi trường và đĩa kháng sinh của hăng: Bio-Rad, Merck, Bio-Merieux.
- Phân lập vi khuẩn theo phương pháp nuôi cấy cổ điển của AFNOR.
- Xác định khả năng kháng thuốc của vi khuẩn bằng cách đo ṿng khuếch tán trên đĩa thạch. Biện luận kết quả kháng sinh theo tiêu chuẩn NCCLC (Nation Committee for Clinical Laboratory Standards – phiên bản tháng 1/2005).
- Đánh giá tỷ lệ vi khuẩn nhiễm trong mẫu thử dựa theo quyết định số QĐ 867/1998 của Bộ Y tế, chuyên mục thịt và sản phẩm thịt.
Phân tích 150 mẫu thịt gà có kết quả như sau:
Bảng 1: Tỷ lệ vi khuẩn nhiễm trong thịt gà.
|
STT |
Vi khuẩn |
Kết quả |
|
|
Đạt |
Không đạt |
||
|
1 |
E. coli |
3 (2,0%) |
147 (98,0%) |
|
2 |
Salmonella |
106 (70,7%,) |
44 (29,3%) |
|
3 |
Campylobacter |
126 (84,0%) |
24 (16,0%) |
|
4 |
Enterococci kháng vancomycin |
136 (90,7%) |
14 (9,3%) |
Bảng 1 cho thấy thịt gà tại các cơ sở giết mổ có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao. Trong đó, tỷ lệ nhiễm vi khuẩn E. coli cao nhất 98%. Điều này cho thấy rằng công tác vệ sinh thú y tại các cơ sở giết mổ gia cầm trong thời gian khảo sát chưa đảm bảo. Nguyên nhân có thể do nguồn nước bị ô nhiễm; sự vấy nhiễm vi sinh vật lên sản phẩm trong các công đoạn cắt tiết, nhổ lông,… hay từ dụng cụ, công nhân; qui tŕnh giết mổ không tuân thủ nguyên tắc một chiều từ khâu giết mổ sang khâu rửa sạch sản phẩm.
Salmonella có tỷ lệ nhiễm 29,3% (44/150 mẫu), Salmonella nhóm OMA chiếm tỷ lệ cao 71,2%. Sự xuất hiện của các vi khuẩn gây bệnh này trong mẫu thịt gà có thể do nhiễm từ người chăn nuôi hoặc công nhân giết mổ có mang mầm vi khuẩn.
Campylobacter nhiễm 16% (24/150 mẫu), trong đó C. lari 66,7%, C. coli 20,8%, đặc biệt C. jejuni gây bệnh cho người cũng có tỷ lệ 12,5%.
Enterorococci kháng Vancomycin (VRE) chiếm tỷ lệ 9,3% (14/150 mẫu), thấp hơn so với các nước trên thế giới; Năm 1999 ơ Pháp có 66%, ở Đức 79% thịt gà và sản phẩm của thịt gà bị nhiễm VRE [9]. Năm 2001 ở U. S có 79% thịt gà bị nhiễm VRE [9]. Việc dùng các kháng sinh thuộc nhóm glycopeptides (như Avoparcin) làm chất kích thích sự tăng trưởng của vật nuôi đă làm gia tăng đáng kể các loài Enterococci kháng vancomycin và chúng có thể lây truyền sang người qua chuỗi thức ăn, đặc biệt từ thịt gia cầm [7].
Tỷ lệ mẫu thịt gà nhiễm khuẩn trong nghiên cứu này cao hơn so với kết quả trước đây của Chi cục Thú y TP. HCM (2005) và Nguyễn Duy Nam (2005) [1].
294 chủng E. coli, 132 chủng Salmonella spp. , 96 chủng Campylobacter và 21 chủng Enterococci kháng vancomycin phân lập được có tỷ lệ kháng kháng sinh như sau:
Bảng 2: Tỷ lệ kháng kháng sinh của các vi khuẩn phân lập từ thịt gà.
|
Kháng sinh |
E. coli |
Salmonella |
Campylobacter |
|||
|
Số chủng kháng |
% |
Số chủng kháng |
% |
Số chủng kháng |
% |
|
|
AMX |
266 |
90,5 |
39 |
76. 5 |
28 |
29,2 |
|
CIP |
254 |
86,4 |
0 |
0 |
77 |
80,2 |
|
TIC |
250 |
85,0 |
21 |
41. 2 |
– |
– |
|
SXT |
250 |
85,0 |
27 |
52. 9 |
– |
– |
|
NOR |
250 |
85,0 |
– |
– |
– |
– |
|
PIP |
244 |
83,0 |
– |
– |
– |
– |
|
NA |
232 |
78,9 |
42 |
82. 4 |
74 |
77,1 |
|
C |
210 |
71,4 |
30 |
58. 8 |
– |
– |
|
CF |
144 |
49,0 |
12 |
23. 5 |
91 |
94,8 |
|
GM |
144 |
49,0 |
12 |
23. 5 |
28 |
29,2 |
|
AMC |
138 |
47,0 |
18 |
35. 3 |
– |
– |
|
AN |
138 |
47,0 |
– |
– |
– |
– |
|
FOX |
106 |
36,1 |
6 |
5. 9 |
– |
– |
|
CTX |
94 |
32,0 |
0 |
0 |
– |
– |
|
S |
– |
– |
18 |
35. 3 |
– |
– |
|
SSS |
– |
– |
33 |
64. 7 |
– |
– |
|
TE |
– |
– |
42 |
82. 4 |
– |
– |
|
E |
– |
– |
– |
– |
25 |
26,0 |
|
AZM |
– |
– |
– |
– |
25 |
26,0 |
Ghi chú: AMX Amoxicilline; AMC Amox + ac clavulanique; TIC Ticarcilline; PIP Piperacilline; CF Céfalotine; FOX Céfoxitine; CTX Céfotaxime; AN Amikacine; GM Gentamicine; C Chloramphénicol; SXT Trimethoprime-sulfaméthoxazol; NA Ac nalidixique; NOR Norfloxacine, CIP Ciprofloxacine, S Streptomycine; SSS Sulfonamide; TE Tetracycline, E Erythromycine; AZM Azithromycine.
Bảng 2 cho thấy vi khuẩn E. coli có tỷ lệ kháng thuốc trên 80% mỗi loại: AMX 90,5%, CIP 86,4% và 85% các kháng sinh: TIC, SXT và NOR. Kết quả đạt được trong nghiên cứu này so với các kết quả nghiên cứu của Yashpal S. Malik (2002), Phùng Quốc Chương (2003) và Tô Liên Thu (2004) cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh của E. coli ngày càng tăng [9][3][4]. Bên cạnh đó, báo cáo của Đại học Nông lâm TP. HCM và Nguyễn Thị Hoa Lư đă phát hiện dư lượng với 26 loại kháng sinh khác nhau từ thịt gà như GM, NOR, C, S, AMX cho thấy rằng việc sử dụng các kháng sinh trên là rất phổ biến tại các cơ sở chăn nuôi gia cầm [10][2].
Tỷ lệ kháng thuốc của Salmonella spp. cao trên 50% mỗi loại: TE và NA (82,4%), AMX (76,5%), SSS (64,7%), C (58,8%) và SXT (52,9%). Salmonella spp. có tỷ lệ kháng thấp với FOX (5,9%), GM và CF (23,5%). Vi khuẩn này c̣n nhạy cảm với kháng sinh FOX và CTX, chưa kháng với CTX và CIP. Điều này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Đại học Nông lâm TP. HCM và Nguyễn Thị Hoa Lư (2004) – chưa phát hiện dư lượng kháng sinh thuộc nhóm này trong các mẫu thịt gà [10][2]. Có thể trong chăn nuôi chưa dùng các loại kháng sinh này để điều trị hoặc pḥng bệnh cho vật nuôi và so với kết quả của EMEA (1999), Yashpal S. Malik (2002) và Phùng Quốc Chương (2003) tỷ lệ kháng thuốc của Salmonella spp. đối với các nhóm kháng sinh khác đang ngày càng tăng, đặc biệt là những kháng sinh mới thuộc nhóm Quinolones (A. nalidic, Ciprofloxacin), trimethoprim/ sulfamethoxazole [9][3]. Điều này cho thấy việc lạm dụng kháng sinh quá nhiều, kể cả những loại kháng sinh thế hệ mới trong chăn nuôi.
Campylobacter kháng với CF (94,8%), CIP (80,2%), 771% NA; và kháng trên 26% các kháng sinh AMX, GM, E và AZM. Các chủng C. jejuni b́nh thường nhạy với GM và E, nhưng kết quả điều tra Campylobacter đă có khả năng kháng lại 2 kháng sinh trên, điều này sẽ gây ảnh hưởng đến việc điều trị khi nhiễm vi khuẩn này.
- Vi khuẩn E. coli đề kháng đồng thời từ 3 đến 14 loại kháng sinh khác nhau. Trong đó, vi khuẩn đồng thời kháng 9 loại kháng sinh đạt tỷ lệ cao nhất (19%), vi khuẩn đồng thời đề kháng 14 loại kháng sinh đạt tỷ lệ 15%.
- Salmonella spp. đề kháng đồng thời từ 1 – 10 loại kháng sinh khác nhau. 23,5% vi khuẩn kháng đồng thời 4 loại kháng sinh, 29,4% vi khuẩn kháng đồng thời 8 loại kháng sinh.
- Campylobacter kháng đồng thời từ 2 đến 7 kháng sinh, kháng đồng thời 3 kháng sinh chiếm tỷ lệ cao (37%).
- Mức độ nhiễm khuẩn trên thịt gà tại các cơ sở giết mổ cao, trong đó E. coli chiếm tỷ lế cao nhất 98%, Campylobacter 16%, Salmonella 29,3% và Enterococci kháng vancomycin 9,3%.
- Tính kháng kháng sinh của các vi khuẩn:
§ Các chủng vi khuẩn phân lập từ thịt gà như E. coli, Salmonella, Campybacter và Enterococcci có tỷ lệ kháng thuốc cao và đề kháng đồng thời từ 2 đến 14 loại kháng sinh khác nhau.
§ E. coli có tỷ lệ kháng thuốc cao (trên 80% mỗi loại) với 5 loại kháng sinh Amoxicilline (90,5%), Ciprofloxacine (86,4%) và 85% các kháng sinh Ticarcillin, Trimethoprime-sulfaméthoxazol và Norfloxacine. Chúng có tính đa kháng cao từ 3 kháng sinh trở lên.
§ Salmonella spp. có tỷ lệ kháng thuốc thấp hơn E. coli (kháng trên 50% 6 loại kháng sinh): Tetracycline và A. nalidixique (82,4%), Amoxicilline (76,5%), Sulfonamide (64,7%), Chloramphenicol (58,8%) và Trimethoprime-sulfamethoxazol (52,9%). Salmonella spp. kháng thấp với Céfoxitine (5,9%), Gentamicine và Cefalotine (23,5%). Đặc biệt, chưa phát hiện vi khuẩn này kháng với Cefotaxime và Ciprofloxacine và đề kháng đồng thời từ 1 đến 10 loại kháng sinh khác nhau.
§ Campylobacter kháng cao với Cefalotine (94,8%), Ciprofloxacine (80,2%), A. nalidixique 77,1%; Amoxicilline và Gentamicine (26%), Erythromycine và Azithromycine (29,2%). Kháng đồng thời từ 3 đến 7 kháng sinh chiếm tỷ lệ (37%).
§ Enterococci kháng vancomycin chiếm tỷ lệ thấp 9,3% qua đây cho thấy có dấu hiệu lạm dụng kháng sinh phổ kháng khuẩn rộng trong chăn nuôi.
- Các cơ sở giết mổ: cần thực hiện đúng các yêu cầu, qui định về vệ sinh an toàn thực phẩm, có qui chế vệ sinh về chế biến, bảo quản, lưu thông và phân phối sản phẩm. Thiết lập các qui tŕnh giết mổ vệ sinh, hiện đại theo mô h́nh bán công nghiệp hoặc công nghiệp.
- Các cơ quan kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm: cần kiểm tra thường xuyên, định kỳ, đột xuất tại các cơ sở giết mổ. Thường xuyên nhắc nhở, có h́nh thức xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Các cơ sở chăn nuôi: nên sử dụng hợp lư hoặc hạn chế sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi, nên sử dụng các chế phẩm sinh học để thay thế các kháng sinh trong thức ăn cho gia súc, gia cầm.
1. Báo cáo t́nh h́nh thực hiện văn bản pháp luật về quản lư vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành y tế năm 2005. Tài liệu hội thảo vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành y tế năm 2005.
2. Nguyễn Thị Hoa Lư. Tồn dư kháng sinh ở 19 trại gà và 17 trại heo. Báo cáo tổng kết của Trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y trung ương II, năm 2004.
3. Phùng Quốc Chương. Kết quả kiểm tra tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập được từ vật nuôi tại Đắc Lắc. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, trang 15 – 18, năm 2002.
4. Tô Liên Thu. T́nh trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn Salmonella và E. coli phân lập được từ thịt lợn và thịt gà tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y, trang 20 – 23 năm 2004.
5. Elizabeth Barclay. Subtherapeutic use of antibiotics in animal feed: in light of an unresolved clash of expert paradigms should we punt to the consumer in decade four. Food and drug law, page 8, 1998.
6. Gary A. Balsamo, DVM, MPH &TM-Poster. Antibiotic Resistance on the Farm Antiotic use in Agriculture. Louisiana Department of Health and Hospitals, Office of Public Health, Infectious Disease Epidemiology 2002.
7. Pavia M, Nobile CGA, Salpietro L and Angelillo IF. Vancomycin resistance and antibiotic susceptibility of enterococci in raw meat. J. Food Protec. 2000; p912-915.
8. SJ Kim and all. Antibiotic resistance of Korean isolates Enterococci of poultry origin ISSAR 2003, Posters.
9. Joshua R. and all. Prevalance and Antimicrobial Resistance of Enterococcus Species Isolated from Retail Meats. Applies and Environnement Microbiology, Dec. 2003, p. 7153-7160.
10. Yashpal S. Malik, Karen Olsen, Yogesh Chander, Sagar M. Goyal. Antimicrobial resistance in Bacterial Pathogens Isolated from Turkeys in Minnesota from 1998 to 2002.
Nguyen Thi Nguyet, Pham Minh Thu, Phan Thu Dong, Truong Thi Xuan Lien
Pasteur Institute in HCM City
150 Samples of chicken collected at some slaughtering houses in HCM city were contaminated with bacterial pathogens such as Salmonella, Campylobacter, Enterococci, E. coli. The contamination rates were as follows: 98% E. coli, 16% Campylobacter, 29,3% Salmonella and 9,3% Vancomycin Resistance Enterococci.
There was high resistance of these strains and simultaneous resistance was from 1 to 14 different antibiotics. E. coli had the highest resistant rate to Amoxicilline (90,5%), followed by Ciprofloxacin (86,4%), and 85% resistance to Ticarcillin, Trimethoprime-sulfamethoxazol and Norfloxacine. The resistance of Salmonella spp were lower than that of E. coli but they were high resistant to 6 different antibiotics; 82,4, 76,5, 64,7, 58,8 and 52,9%ø were resistant to Tetracyclin and A. Nalidixique, Amoxicillin Sulfonamide, Chloramphenicol and Cotrimoxazole/Bactrim, respectively while low resistance to Céfoxitine (5,9%), Gentamicine and Céfalotine (23,5%). Specially, the resistance was not found with Céfotaxime and Ciprofloxacin. Campylobacter isolated were resistant at least 1 antibiotic. Campylobacter were resistant to 94,8% Cefalotine, 80,2% Ciprofloxacine, 77,1% A. Nalidixique and over 26% Amoxicilline, Gentamicin, Erythromycine and Azithromycine.