HIỆU QUẢ CAN THIỆP PH̉NG LÂY NHIỄM HIV/AIDS
TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY DỰA VÀO MẠNG LƯỚI
GIÁO DỤC VIÊN ĐỒNG ĐẲNG TẠI SÓC TRĂNG 2003 – 2005

Nguyễn Vũ Th­ượng,(1) Trần Phúc Hậu,(1) Kh­u Văn Nghĩa,(1) Trư­ơng Hoài Phong,(2) Nguyễn Ph­ương Ánh(2),
 Nguyễn Duy Phúc (1), Trương Thị Xuân Liên(1) Lê Minh Toàn,(2) & Nguyễn Thị Kim Tiến. (1)

(1) Viện Pasteur TP. HCM;

(2) VPTT PC AIDS Sóc Trăng

Bối cảnh: Dự án can thiệp pḥng lây nhiễm HIV/AIDS trên người nghiện ma túy dựa vào mạng lưới giáo dục viên đồng đẳng (GDVĐĐ) và cộng tác viên (CTV) được tiến hành từ 10/2003 – 10/2005. Mạng lưới này tiếp cận người nghiện ma túy trong cộng đồng nhằm tuyên truyền pḥng chống HIV/STI, cấp phát bơm kim tiêm sạch và bao cao su miễn phí. Do đó, nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả can thiệp của dự án.

Phương pháp: 3 đợt khảo sát cắt ngang ở người sử dụng ma túy trong quá tŕnh can thiệp được tiến hành: Đầu kỳ (ĐK) 1 – 4/2004 (n=500), Giữa kỳ (GK) 3 – 5/2005 (n=500) và cuối kỳ (CK) 10 – 11/2005 (n=250, chỉ điều tra ở nhóm chích). Đối tượng được CTV và ĐĐV phỏng vấn bằng bộ câu hỏi chuẩn về một số đặc tính dân số xă hội và hành vi có liên quan đến HIV; và cũng được lấy 5 ml máu tĩnh mạch để xét nghiệm HIV (2 ELISA + 1 SFD), vi rút viêm gan C (ELISA) và giang mai (RPR+TPHA).

Kết quả: Kiến thức về HIV/STI tăng theo thời gian, cụ thể từng nghe nói về các bệnh lây qua đường t́nh dục (BLQĐTD) tăng dần qua các kỳ khảo sát lần lượt là 65,3%, 78,1% và 94,8%. Biết ít nhất về 1 triệu chứng của BLQĐTD ở nam lần lượt là 47,9%, 69,6% và 83,2%. Nắm được kiến thức căn bản về đường lây và cách thức pḥng lây nhiễm HIV cũng tăng 98,2% ở ĐK, 99,5% GK và đến 100% CK. Thường xuyên dùng BCS khi QHTD với gái mại dâm cũng tăng qua các kỳ 74,9%, 64,8% và 79,0%. Tỉ lệ không dùng chung BKT ở NCMT trong đa số các lần chích trong 6 tháng qua lần lượt là 63,4%, 72. 4% và 78,5%.

Ở nhóm nghiện chích, HIV có chiều hướng giảm từ 23,5%, xuống 11,6% và cuối cùng 5,6%. Huyết thanh viêm gan C, HCV, cũng có chiều hướng tương tự 34,3%, 16,5% và 9,2%. Tuy nhiên, giang mai có phần biến thiên, 4,1%, 6,2% và 0,8% lần lượt ĐK, GK, CK.

Ở nhóm nghiện hút HIV giảm từ 3,2% xuống 1,6%; HCV từ 8,2% c̣n 3,2% nhưng giang mai có phần tăng lên từ 5,1% đến 8,1%.

Kết luận: Hành vi an toàn trong tiêm chích có phần cải thiện nhưng chưa được triệt để mặc dù dự án đă góp phần làm giảm lây nhiễm HIV trong quần thể người nghiện ma túy tại Sóc Trăng. Tuy nhiên, sự biến động về quần thể (di dân, hay cách lấy mẫu thuận lợi) có thể cũng tác động đến sự thay đổi chỉ số này.

 

EFFECTIVENESS OF THE PEER-BASED INTERVENTION ON HIV/AIDS TRANSMISSION AMONG DRUG USERS IN SOCTRANG, 2003 – 2005

Nguyen Vu Thuong,(1) Tran Phuc Hau,(1) Khuu Van Nghia,(1) Truong Hoai Phong,(2) Nguyen Phuong Anh,
(2) Nguyen Duy Phuc(1), Truong Thi Xuan Lien(1) Le Minh Toan,(2) & Nguyen Thi Kim Tien. (1)

(1) Pasteur Institute in HCM City;
(2) AIDS Standing Bureau in Soc Trang

Background: Intervention on HIV/AIDS transmission in drug users based on peer educator and collaborator network was implemented between 10/2003 and 10/2005. This network reached drug users for IEC on HIV/AIDS, including free syringe and condom distribution. This study was conducted to assess the effectiveness of the project.

Methods: 3 surveys among drug users were conducted: baseline, 1 – 4/2004 (n=500), mid-term, 3 – 5/2005(n=2005) and exit, 10 – 11/2005 (n=250, only injecting drug users=IDUs). Subjects were interviewed about selected sociodemographic and behavioral factors relevant to HIV by a standard interview schedule; also were asked for 5 ml of venous blood for HIV (2ELSIA+1SFD), syphilis (RPR+TPHA) and hepatic C virus (ELISA) testing.

Results: knowledge on HIV/STI increased by time. Ever heard about STIs increased from 65. 3%, to 78. 1% and 94. 8%. At least one male STI symptom was known by 47. 9%, 69. 6% and 83. 2%, in the baseline, mid-term and exit survey, respectively. Basically understanding HIV transmission and prevention also increased in 98. 2% in baseline, 99. 5% in mid-term and up to 100% in exit. Consistent condom use with female sex workers was increasing across surveys 74. 9%, 64. 8% and 79. 0%. No syringe sharing in most of the times of injection in the last 6 months was 63. 4%, 72. 4% and 78. 5%, respectively.

In IDUS, HIV tended to be decreasing from 23. 5%, to 11. 6% and finally 5. 6%. Hepatitis C sero-positive had also similar trend with prevalence of 34. 3%, 16. 5% and 9. 2%. However, sero-syphilis varied form 4. 1%, up to 6. 2% and down to 0. 8%.

In the inhale drug users, HIV also delined from 3. 2% to 1. 6%; HCV from 8. 2% to 3. 2% but sero-syphilis somehow increased from 5. 1% to 8. 1%.

Conclusions: Safe injecting behaviors somehow were improved but not absolutely although the project showed a decline in HIV transmission in drug users in Soctrang. However, the mobility of this population (migration, convenient sampling) could partly explain for this trend of HIV.