Phan Văn Tú(1), Nguyễn Thị Thanh Thảo(1), Trương Hữu Khanh(2), Nguyễn Thị Kim Ngọc(1),
Đặng Thị Nguyệt(1), Trần Quốc Khánh(1), Từ Quốc Vũ(1),, Nguyễn Thị Kim Tiến(1), Tăng Chí Thượng(2),
David Perera(4), Mary Jane Cardosa(4), Ooi Mong How(3), Peter Charles McMinn(5)
(1) Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam
(2) Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP. Hồ Chí Minh (CH1 – HCM), Việt Nam
(3) Benh vien da khoa Sibu, Sarawak, Malaysia
(4) Viện Sức Khỏe và Y học Cộng đồng, ĐH Sarawak, Kota Samarahan, Sarawak, Malaysia
(5) Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em Telethon, Perth, Úc.
Các từ khóa: enterovirus 71, bệnh tay chân miệng, TP. Hồ Chí Minh
Dòng tiêu đề: enterovirus 71 ở bệnh tay chân miệng có hoặc không có hội chứng não cấp
Năm 2005, 764 bệnh nhi được nhập viện vào bệnh viện Nhi Đồng 1, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam, do bệnh tay-chân-miệng (BTCM) đơn thuần hoặc bệnh tay-chân-miệng có biến chứng thần kinh (viêm não, viêm màng não, viêm màng não vô khuẩn, bại liệt tương tự Polio…). Các trẻ em bị BTCM đến khám ở các phòng khám ngoại trú bệnh viện quanh năm, nhiều nhất từ tháng 3 đến 5 và từ tháng 9 đến 12. BTCM có chẩn đóan lâm sàng không biến chứng là 76,4% (584/764) ca và BTCM có biến chứng thần kinh được chẩn đoán là 23,6% (180/764) ca. Tất cả bệnh nhi đưa vào nghiên cứu được lấy bệnh phẩm để cấy phân lập vi rút, gồm dịch bóng nước, ngoáy họng và phân. Trẻ bị hội chứng não cấp sẽ được lấy thêm dịch não tủy. Vi rút được cấy phân lập trên tế bào RD và Vero, sau đó được định danh Enterovirus 71 (EV71) và các Enterovirus khác bằng kỹ thuật RT PCR. Trong số 764 ca BTCM, 412 ca có các vi rút đường ruột khác nhau được phân lập (53,9%). Trong số 412 ca dương tính thì EV71 và vi rút Coxsackie nhóm A là chủ yếu với số ca lần lượt là 173 (hoặc 42%) và 239 (hoặc 58%). Đối với những ca nhiễm EV71, có 51 ca có biến chứng (29,5%) và 3 ca tử vong (1,7%). EV71 được ghi nhận quanh năm, cao từ tháng 6 (26,3%) đến tháng 12 (22,7%) với đỉnh ở tháng 7 (44,4%). Trẻ nam (56,6%) nhiễm EV71 cao hơn trẻ nữ (43,4%), tỉ số nam/nữ là 1/1,3.
Nhiễm EV71 xảy ra chủ yếu ở trẻ dưới 5 tuổi, thường xuyên hơn ở nhóm trẻ 1 – 2 tuổi (71,5%), nhiều nhất ở trẻ 1 tuổi (40,6%). BTCM do EV71 có biến chứng gồm; bệnh thần kinh chưa xác định 12,4%; viêm màng não vô khuẩn 8,5%; viêm não 2% và viêm não-màng não 0,7%. Tuổi của các ca có biến chứng được ghi nhận là từ 1 tháng đến 4 năm tuổi, cao nhất là 1 năm tuổi (48,4%). Có 3 ca tử vong, tuổi từ 2; 8; và 12 tháng. Tất cả những ca này chết trong vòng 24 – 48 giờ sau khi nhập viện. Tỉ lệ phát hiện EV71 trong số 1928 bệnh phẩm của tất cả các ca BTCM là 21,5% (61/283) ở dịch bóng nước; 18,4% (139/754) ở phân và 14,5% (111/763) ở mẫu ngoáy họng. Không có Enterovirus cũng như chủng EV71 nào phân lập được ở dịch não tuỷ. Độ nhạy của tế bào Vero đối với EV71 cao hơn của tế bào RD (74,8% so với 70,4%). Phân tích về genotype và phả hệ của một số chủng EV71 đại diện phân lập được ở Việt Nam cho thấy các chủng này thuộc về genogroup (nhóm gene) C1. Kết quả nghiên cứu này cho chúng ta một cái nhìn bao quát về nhiễm EV71 ở miền Nam Việt Nam trong năm 2005. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gợi ý rằng chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến các bệnh do EV71 gây ra và chúng ta cần thiết lập giám sát trọng điểm nhiễm EV71 và một vắc xin ngừa EV71 cần phải được triển khai và phát triển càng sớm càng tốt trong khu vực.
Phan Van Tu(1), Nguyen Thi Thanh Thao(1), Truong Huu Khanh(2), Nguyen Thi Kim Ngoc(1),
Dang Thi Nguyet(1), Tran Quoc Khanh(1), Tu Quoc Vu(1),, Nguyen Thi Kim Tien(1), Tang Chi Thuong(2),
David Perera(4), Mary Jane Cardosa(4), Ooi Mong How(3), Peter Charles McMinn(5)
(1) Pasteur Institute of Ho Chi Minh City (PI – HCM), Vietnam
(2) Children’s Hospital No. 1 of Ho Chi Minh City (CH1 – HCM), Vietnam
(3). Sibu General Hospital (SGH), Sarawak, Malaysia
(4) Institute of Health & Community Medicine, Universiti Malaysia Sarawak (UNIMAS),
Kota Samarahan, Sarawak, Malaysia
(5) Telethon Institute for Child Health Research (TICHR), Perth, Australia1
Key words: enterovirus 71, hand-foot-and-mouth disease, HoChiMinh City, 2005.
Running title: enterovirus 71 in hand-foot-and-mouth disease with/without acute encephalopathy
In 2005, 764 children were admitted to Children’s Number 1 Hospital of HoChiMinh City, Vietnam, with uncomplicated hand-foot-and-mouth disease (HFMD) or HFMD plus neurological complications (encephalitis, meningo-encephalitis, aseptic meningitis, polio-like paralysis etc…). Children with HFMD had visits to the triages of the hospital all year round, mostly from March to May and from September to December. Uncomplicated HFMD had clinical diagnosis in 76. 4% (584/764) cases and HFMD plus neurological complications was diagnosed in 23. 6% (180/764) of the cases. All children enrolled in this study had specimens collected for virus isolation, including vesicle fluid, throat swabs and stool specimens. Children with acute encephalopathy also had cerebrospinal fluid (CSF) collected. Virus isolation was performed on RD and Vero cell cultures, followed by identification of enterovirus 71 (EV71) and other enteroviruses (EVs) using RT-PCR. Of the 764 enrolled HFMD cases, there were 412 cases having various enteric viruses isolated (53. 9%). Among 412 positive cases, EV71 and Coxsackie virus A16 (CA16) were predominant with 173 (or 42%) and 239 (or 58%) cases, respectively. For EV71 cases, there were 51 cases having complications (29. 5%) and 3 fatal cases (1. 7%). EV71 infection was notified all year round, highly from June (26. 3%) to December (22. 7%) with the peak at 44. 4% in July. Male children were infected with EV71 (56. 6%) more than the females (43. 4%), m/f ratio was 1: 1. 3. EV71 infection occurred mainly in children less than 5 years of age, more frequently in 1 – 2 year-age group (71. 5%), the most in 1-year-old children (40. 6%). The EV71 complicated HFMD included: unspecified neurological diseases 12. 4%; aseptic meningitis 8. 5%; encephalitis 2% and meningo-encephalitis 0. 7%. The ages of complicated cases were from 1 month to 4 years, highest at 1 year old (48. 4%). There were 3 fatal cases, aged 2; 8 and 12 months. All these cases died within 24 – 48 hours after being hospitalized. The rates of EV71 detection in 1928 specimens of all HFMD cases were 21. 5% (61/ 283) in vesicle fluild samples; 18. 4% (139/ 754) in stools and 14. 5% (111/ 763) in throat swabs. No EVs, including EV71, were isolated from CSF specimens. The sensitivity of Vero cells to EV71 was higher than that of RD cells (74. 8% vs 70. 4%). Genotyping and phylogenetic analysis of some representative EV71 isolates of Vietnam showed that the virus strains belonged to genogroup C1. This study provides an overview of EV71 infection in Southern Vietnam during 2005. Our results of study suggest that further attention should be paid to the diseases caused by EV71 and that a sentinel surveillance for EV71 infection and a vaccine for prevention should be established and developed as soon as possible in this region.