Trần Hữu Bích(1), Lă Ngọc Quang(1), Lê Vũ Anh(1), Richard Fielding(2), Trương Quang Tiến(1)
(1) Giảng viên Trường Đại học Y tế công cộng
(2) Giảng viên Bộ môn Y học cộng đồng – Trường Y tế công cộng – Đại học Tổng hợp Hồng Kông.
Dịch cúm gia cầm hiện đang lưu hành rộng răi ở nhiều quốc gia là do vi rút cúm A H5N1. Vi rút này đă vượt qua hàng rào loài sinh học để gây bệnh cho con người với những bệnh cảnh nặng nề và và tỷ lệ tử vong rất cao (56%) [4] và là nguy cơ gây nên một vụ đại dịch cúm trên người. Bệnh cúm gia cầm H5N1 xuất hiện lần đầu tiên ở Hồng Kông vào năm 1997, được dập tắt nhanh chóng mà không lây lan sang một quốc gia nào khác. Sau một thời gian lắng dịu, bệnh xuất hiện trở lại ở nhiều quốc gia [5]. Từ tháng 12/2003 đến nay tại Việt Nam đă xuất hiện 4 đợt dịch cúm trên gia cầm, đợt dịch thứ tư bắt đầu từ tháng 11/2005 và kết thúc vào tháng cuối 12/2005. Tính vào thời điểm của 2005, Việt Nam là nước có số lượng bệnh nhân bị nhiễm cúm gia cầm đông nhất và cũng có nhiều ca tử vong do bệnh này nhất (93 trên tổng số 186 bệnh nhân và 42 trên 103 trường hợp tử vong của toàn thế giới). Theo thống kê của Bộ Y tế – Viện VSDT Trung ương, dịch cúm trên gia cầm xuất hiện đầu tiên ở khu vực phía Bắc (Hà Tây) và số các ca mắc cúm gia cầm ở các khu vực phía Bắc nh́n chung nhiều hơn các ca mắc ở phía Nam. Dựa vào t́nh h́nh mắc cúm gia cầm hiện tại th́ Việt Nam đang ở giai đoạn thứ 3 hay c̣n gọi là giai đoạn tiền đại dịch. Trong số các tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, năm tỉnh Hà Tây, Thái B́nh, Nam Định, Bắc Giang, Hải Dương là các tỉnh đă xuất hiện dịch cúm trên gia cầm không dưới một lần tính từ năm 2003. Các tỉnh này cũng đă có những người mắc cúm gia cầm, trong đó có các trường hợp tử vong [4]. Do đây là căn bệnh mới, trên thế giới và Việt nam đă có một số điều tra về kiến thức, thái độ, thực hành pḥng chống bệnh cúm gia cầm nhằm t́m hiểu mức độ hiểu biết cũng như những hành vi, thói quen có nguy cơ của người dân đối với căn bệnh này [1,2,3]. Thông tin thu được từ nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về pḥng chống cúm gia cầm tại các tỉnh đă và đang có dịch sẽ hỗ trợ cho việc xây dựng chiến lược truyền thông phù hợp nhằm nâng cao kiến thức của người dân, phát huy những hành vi tốt và thay đổi những những hành vi nguy cơ cao có hại cho sức khỏe và lây lan dịch bệnh.
Chính v́ lư do trên, nghiên cứu được triển khai nhằm mô tả thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành pḥng chống cúm gia cầm của người dân và xác định mối liên quan giữa kiến thức pḥng chống cúm gia cầm và thái độ, giữa thái độ và thực hành pḥng chống cúm gia cầm của người sử dụng sản phẩm gia cầm tại 5 tỉnh phía Bắc.
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, thu thập thông tin từ đại diện hộ gia đ́nh, tuổi từ 16 đến 64, chịu trách nhiệm mua, chế biến và sử dụng thực phẩm trong gia đ́nh. Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 12/2005 đến tháng 2/2006. Các tỉnh được chọn vào nghiên cứu là Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định, Hà Tây và Thái B́nh. Tổng số người tham gia vào nghiên cứu là 1988. Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn, chọn mẫu phân tầng đối với huyện (2 huyện trong một tỉnh) và xă (2 xă, thị trấn trong một huyện) trong 5 tỉnh nghiên cứu theo các khía cạnh nông thôn, thành thị và t́nh trạng thông báo dịch (có dịch, không có dịch). Tại mỗi xă và thị trấn được chọn từ giai đoạn trước, 100 hộ gia đ́nh được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên đơn. Sau đó đối tượng phỏng vấn trong hộ gia đ́nh được chọn ngẫu nhiên theo bảng Kisch.
Thông tin được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp thành viên hộ gia đ́nh bằng bộ câu hỏi cấu trúc. Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và xử lư bằng SPSS 12. Test c2 được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ. Phân tích hồi qui đa biến được sử dụng nhằm xác định quan hệ giữa biến độc lập và phụ thuộc.
Liên quan đến kiến thức về nguyên nhân mắc cúm gia cầm, kết quả tại phần A-Bảng 1 cho thấy, phần lớn người được hỏi đều cho rằng nguyên nhân mắc cúm gia cầm là do tiếp xúc với thịt, trứng gia cầm bị bệnh (79,0%). Tuy nhiên, mâu thuẫn với tỷ lệ này, tỷ lệ người được hỏi chọn nguyên nhân mắc cúm là do ăn thịt, trứng gia cầm bị bệnh lại thấp hơn nhiều, chỉ chiếm 49,2%. Tỷ lệ người dân cho rằng nguyên nhân mắc cúm là do “ăn thịt gia cầm chưa nấu chín” tương đối thấp (24,4%). Bên cạnh đó, trong khi tỷ lệ người dân cho rằng nguyên nhân mắc cúm gia cầm là do “tiếp xúc với các vật dụng chăn nuôi gia cầm bị bệnh chưa tẩy trùng” là 34,9% th́ tỷ lệ người chọn nguyên nhân “vệ sinh chuồng trại chăn nuôi không sạch sẽ” lại thấp hơn (23,3%).
Liên quan đến kiến thức về các biện pháp pḥng bệnh cúm gia cầm của người (phần B – Bảng1), biện pháp pḥng ngừa được người dân nhắc đến nhiều nhất là không tiếp xúc với gia cầm, đặc biệt là gia cầm bị bệnh/chết (79,6%), tiếp đó là không ăn tiết canh gia cầm (49,7%). Biện pháp mua thịt gia cầm đă được kiểm dịch và tiêm vắc xin pḥng cúm được người dân đề cập đến với tỷ lệ tương ứng là 26,8% và 31,9%. Tỷ lệ này ở nông thôn cao hơn thành thị với giá trị p<0,05. Tỷ lệ người dân cho rằng vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ và không mua, ăn thịt gia cầm là các biện pháp pḥng ngừa bệnh cúm gia cầm là thấp (3,7% và 2,6%).
Liên quan đến thái độ (số liệu không được tŕnh bày ở đây), đa số người dân thể hiện thái độ tích cực đối với vai tṛ của chính quyền trong kiểm soát, pḥng chống dịch. Khi được hỏi về mức độ đồng ư việc "chính phủ phải có trách nhiệm bảo vệ người dân trước dịch cúm gia cầm", đa số người dân đồng ư với điều này (59,7%). Có 33,0% hoàn toàn đồng ư. Phù hợp với thông tin ở trên, đa số người dân trả lời là không đồng ư khi được hỏi họ có tin rằng "Chính phủ đang cố gắng giấu diễn biến thực tế của bệnh cúm gia cầm không". Tuy nhiên vẫn có 11,8% đồng ư và 1,8% hoàn toàn đồng ư. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 66,1% đồng ư là chính phủ cần thông báo mọi diễn biến về bệnh cúm gia cầm cho người dân, 28,2% hoàn toàn đồng ư. Một thông tin tích cực nữa là phần lớn người dân đồng ư với nhận định “Tôi tin vào những ǵ chính quyền thông báo về bệnh cúm gia cầm” (70,0%).
Bảng 1: Kiến thức của người sử dụng về nguyên nhân bị mắc cúm gia cầm
|
STT |
Mục kiến thức |
Tần số (%) |
||
|
Nông thôn |
Thành thị |
Tổng số |
||
|
A |
Nguyên nhân mắc cúm gia cầm |
|||
|
1 |
Tiếp xúc với thịt, trứng gia cầm bị bệnh* |
816 (82,1) |
757 (76,2) |
1573 (79,1) |
|
2 |
Ăn thịt gia cầm chưa nấu chín* |
320 (32,2) |
169 (17,0) |
489 (24,6) |
|
3 |
Tiếp xúc với các vật dụng chăn nuôi gia cầm bị bệnh chưa tẩy trùng |
306 (30,8) |
388 (39,0) |
694 (34,9) |
|
4 |
Ăn thịt, trứng gia cầm bị bệnh* |
447 (45,0) |
534 (53,7) |
981 (49,3) |
|
5 |
Tiếp xúc với người bị bệnh cúm gia cầm |
289 (29,1) |
359 (36,1) |
648 (32,6) |
|
6 |
Vệ sinh cá nhân không sạch sẽ |
192 (19,3) |
150 (15,1) |
342 (17,2) |
|
7 |
Vệ sinh chuồng trại chăn nuôi không sạch sẽ |
265 (26,7) |
198 (19,9) |
463 (23,3) |
|
8 |
Sức khỏe cá nhân kém |
13 (1,3) |
15 (1,5) |
28 (1,4) |
|
9 |
Mua và chế biến gia cầm không vệ sinh |
8 (0,8) |
6 (0,6) |
14 (0,7) |
|
B |
Biện pháp pḥng bệnh cúm gia cầm |
|||
|
1 |
Cấm chăn nuôi gia cầm |
72 (7,2) |
63 (6,3) |
135 (6,8) |
|
2 |
Không ăn tiết canh gia cầm |
496 (49,9) |
492 (49,5) |
988 (49,7) |
|
3 |
Mua thịt gia cầm đă được kiểm dịch* |
299 (30,1) |
234 (23,5) |
533 (26,8) |
|
4 |
Mua thịt gia cầm đă được nấu chín |
108 (10,9) |
87 (8,8) |
195 (9,8) |
|
5 |
Tiêm vaccine pḥng cúm* |
383 (38,5) |
251 (25,3) |
634 (31,9) |
|
6 |
Không tập trung chỗ đông người |
69 (6,9) |
78 (7,8) |
14 (7,47) |
|
7 |
Thường xuyên đeo khẩu trang |
231 (23,2) |
247 (24,8) |
478 (24,0) |
|
8 |
Rửa tay thường xuyên |
100 (10,1) |
76 (7,6) |
176 (8,9) |
|
9 |
Nhỏ thuốc sát trùng mũi, họng thường xuyên* |
108 (10,9) |
138 (13,9) |
246 (12,4) |
|
10 |
Vệ sinh cá nhân và môi trường sạch sẽ |
35 (3,5) |
39 (3,9) |
74 (3,7) |
|
11 |
Không mua, ăn thịt gia cầm |
18 (1,8) |
33 (3,3) |
51 (2,6) |
*Giá trị p< 0,05
Thông tin đại chúng được xem là một kênh truyền thông quan trọng trong các hoạt động pḥng chống dịch cúm gia cầm trong giai đoạn hiện nay. Phần lớn (66,5%) những người được hỏi đồng ư rằng những thông tin trên vô tuyến và đài phát thanh làm tăng hiểu biết về cúm gia cầm. Thông tin trên báo chí, bên cạnh việc truyền thông tới cộng đồng những diễn biến cũng như kiến thức pḥng chống bệnh, cũng đă ảnh hưởng tới tâm lư của cộng đồng trong việc đối mặt với dịch cúm gia cầm. Tỷ lệ người dân đồng ư là thông tin từ nguồn này làm họ lo lắng chiếm 52,0%. Có 26,3% đồng ư ở chừng mực nào đó. Có tới 12,7% không đồng ư với điều này. Khi được hỏi thái độ đối với nhận định “người ta đang phóng đại quá mức về nguy cơ của bệnh cúm gia cầm”, vẫn có một tỷ lệ không nhỏ (15,4%) có quan điểm cho rằng cơ quan truyền thông đại chúng đă phóng đại nguy cơ của dịch cúm gia cầm.
Thói quen mua gia cầm sống cũng đă thay đổi do tác động của dịch cúm gia cầm, khi được hỏi về tần suất mua gia cầm trong năm vừa qua, hầu hết người dân (96,6%) đều mua ít hoặc không mua. Chỉ có 3,4% nói rằng vẫn mua b́nh thường. Rửa tay được coi và khuyến cáo là thực hành vệ sinh cá nhân của người dân trong pḥng chống bệnh cúm gia cầm. Trong nghiên cứu này, bảng 2 cho thấy một tỷ lệ lớn người dân rửa tay khoảng 5 – 8 lần trong một ngày (57,0%). Tỷ lệ người dân rửa tay ít hơn một lần một ngày chiếm không đáng kể (0. 3%)
Bảng 2: Tần suất rửa tay hàng ngày theo khu vực nông thôn và thành thị
|
Tần suất rửa tay |
Nông thôn |
Thành thị |
Chung |
|||
|
Tần số |
Tỷ lệ% |
Tần số |
Tỷ lệ% |
Tần số |
Tỷ lệ% |
|
|
Vài lần trong một giờ |
25 |
2,5 |
43 |
4,3 |
68 |
3,4 |
|
Khoảng một tiếng một lần |
80 |
8,0 |
76 |
7,6 |
156 |
7,8 |
|
Khoảng 5 – 8 lần/ngày |
629 |
63,3 |
505 |
50,8 |
1134 |
57,0 |
|
Khoảng 3 – 5 lần/ngày |
230 |
23,1 |
336 |
33,8 |
566 |
28,5 |
|
Khoảng 1 – 2 lần/ngày |
24 |
2,4 |
34 |
3,4 |
58 |
2,9 |
|
Ít hơn một lần/ngày |
6 |
0,6 |
0 |
0,0 |
6 |
,3 |
|
Tổng số |
994 |
100,0 |
994 |
100,0 |
1988 |
100,0 |
Sau khi phân tích đơn biến được tiến hành, kết quả phân tích đa biến (Bảng 3) cho thấy, kiến thức thể hiện khía cạnh hiểu biết của người dân về vệ sinh cá nhân và môi trường có liên quan với thái độ của người dân đối với nguy cơ mắc cúm gia cầm với p = 0,000.
Bảng 3: Mô h́nh hồi qui tuyến tính về mối liên quan giữa kiến thức và thái độ pḥng chống cúm gia cầm
|
Biến độc lập |
B |
Sai số chuẩn |
Giá trị t |
Giá trị p |
|
Hằng số |
21,795 |
0,536 |
40,646 |
0,000 |
|
Kiến thức |
0,816 |
0,180 |
4,526 |
0,000 |
|
Vùng dịch |
-1,306 |
0,200 |
-6,517 |
0,000 |
|
Giới |
-0,160 |
0,182 |
-,877 |
0,381 |
|
Nơi cư trú |
0,237 |
0,184 |
1,288 |
0,198 |
|
Nuôi gia cầm |
-0,548 |
0,191 |
-2,877 |
0,004 |
Kiến thức: Bốn mức độ tăng từ 0 – 3, Vùng dịch: Có = 1, không
= 2, Giới: nam = 2,
nữ =1;Nơi cư trú: Nông thôn = 1, thành thị = 2; Nuôi gia cầm: có = 1, không =
2
So sánh giá trị trung b́nh của thái độ giữa các nhóm mua gia cầm ít đi (trung b́nh thái độ bằng 19,2) và vẫn mua b́nh thường (trung b́nh thái độ bằng 17,3) ta thấy nhóm mua gia cầm ít đi có thái độ dương tính cao hơn so với nhóm vẫn mua b́nh thường và sự khác biệt có ư nghĩa thống kê với p = 0,023.
Bảng 4: Mô h́nh hồi qui tuyến tính về mối liên quan giữa thái độ và số lần rửa tay trung b́nh trong ngày
|
Biến độc lập |
B |
Sai số chuẩn |
Giá trị t |
Giá trị p |
|
Hằng số |
4,914 |
0,149 |
32,887 |
0,000 |
|
Thái độ |
0,011 |
0,004 |
2,496 |
0,013 |
|
Giới |
-0,091 |
0,035 |
-2,584 |
0,010 |
|
Tuổi |
0,002 |
0,001 |
1,664 |
0,096 |
|
Nơi cư trú |
-0,138 |
0,036 |
-3,832 |
0,000 |
|
Tŕnh độ học vấn |
0,079 |
0,018 |
4,375 |
0,000 |
|
Nuôi gia cầm |
0,090 |
0,037 |
2,466 |
0,014 |
|
Vùng dịch |
-0,239 |
0,039 |
-6,160 |
0,000 |
Thái độ: biến định lượng; Giới: Nam = 2, Nữ = 1; Tuổi: định lượng 16 –
60,
Nơi cư trú: nông thôn =1, thành thị = 2; Tŕnh độ VH: cấp 1 = 1, cấp 2=2, cấp
3 = 3,
trung học dạy nghề = 4, đại học và trên = 5; Nuôi gia cầm: có = 1, không = 2;
Vùng dịch: có = 1, không = 2
Bảng 4 cho thấy mối liên quan dương tính và có ư nghĩa thống kê (p= 0,008) giữa thái độ dương tính về pḥng chống lây nhiễm cúm gia cầm với thực hành rửa tay trung b́nh trong ngày, thậm chí sau khi kiểm soát các yếu tố nhiễu tiềm tàng như tuổi, giới, nơi cư trú, tŕnh độ học vấn, t́nh trạng nuôi gia cầm của hộ gia đ́nh và t́nh trạng dịch của địa phương.
Phần lớn người sử dụng đều cho là nguyên nhân gây bệnh cúm gia cầm do tiếp xúc với thịt, trứng gia cầm bị bệnh (79,0%). Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của AED (92% đối tượng phỏng vấn cho biết là do nguyên nhân này) [2]. Tuy nhiên, mâu thuẫn với tỷ lệ này, tỷ lệ người được hỏi chọn nguyên nhân mắc cúm là do ăn thịt, trứng gia cầm bị bệnh lại thấp hơn nhiều, chỉ chiếm 49,2%. Tỷ lệ người dân cho rằng nguyên nhân mắc cúm là do ăn thịt gia cầm chưa nấu chín tương đối thấp (chỉ 24,4%). Bên cạnh đó, trong khi tỷ lệ người dân cho rằng nguyên nhân mắc cúm gia cầm là do tiếp xúc với các vật dụng chăn nuôi gia cầm bị bệnh chưa tẩy trùng là 34,9% th́ tỷ lệ người chọn nguyên nhân vệ sinh chuồng trại chăn nuôi không sạch sẽ lại thấp hơn nhiều, chỉ chiếm 23,3%. Những tỷ lệ này tương tự như kết quả nghiên cứu của AED và nghiên cứu của CARE Việt Nam [1,2]. Liên quan đến kiến thức của người dân về các biện pháp pḥng chống lây nhiễm cúm gia cầm, có 79,6% người dân biết đến biện pháp không tiếp xúc với gia cầm bị bệnh/chết có thể ngăn ngừa lây nhiễm cúm gia cầm cho con người, có 49,7% cho rằng không nên ăn tiết canh gia cầm. Đặc biệt, chỉ có khoảng 10% cho rằng sử dụng thịt gia cầm nấu chín có thể pḥng ngừa lây nhiễm cúm gia cầm. Các biện pháp dự pḥng đơn giản và ít tốn kém như rửa tay thường xuyên, nhỏ thuốc sát trùng mũi, họng không được đánh giá cao.
Đa số người dân thể hiện thái độ tích cực đối với vai tṛ của chính quyền trong kiểm soát, pḥng chống dịch. Phần lớn các thông tin về cúm gia cầm này đều đưa tới người dân từ vô tuyến và đài phát thanh. Tuy nhiên, cũng có một tỷ lệ khá cao (52,0%) người dân cho rằng thông tin từ nguồn báo chí đă làm họ lo lắng, đây có thể là những hiệu quả không mong muốn của các chiến dịch truyền thông.
Kết quả phân tích đa biến cho thấy người có hiểu biết tốt hơn th́ có thái độ tốt hơn về pḥng chống cúm gia cầm ở người. Người có thái độ dương tính đối với nguy cơ mắc cúm gia cầm có khả năng mua ít gia cầm sống hơn trong 12 tháng qua. Tương tự, người càng có thái độ dương tính th́ càng có số lần rửa tay trung b́nh nhiều hơn trong ngày. Do hạn chế của thiết kế nghiên cứu, cũng như phương pháp chọn mẫu, suy luận căn nguyên của các đo lường sự kết hợp, cũng như tính khái quát của kết quả nghiên cứu c̣n hạn chế. Dựa trên các phát hiện của nghiên cứu, chúng tôi cho rằng các hoạt động truyền thông về bệnh và các biện pháp pḥng bệnh cúm gia cầm cần chú ư nhấn mạnh ở vào nguyên nhân gây bệnh cúm gia cầm cho người và gia cầm, các triệu chứng điển h́nh của bệnh cúm, các biện pháp dự pḥng ít tốn kém như rửa tay bằng xà pḥng trước và sau khi tiếp xúc với gia cầm. Duy tŕ và nâng cao việc cung cấp thông tin thông qua các phương tiện phổ biến như ti vi, đài, loa truyền thanh, ngoài ra bổ sung thêm kênh cung cấp thông tin trực tiếp như từ cán bộ y tế, thú y.
1. CARE International in Vietnam, Knowledge-Attidutes-Practices Study of Small Holder Poultry Raising Farmers in Response to Avian Influenza. 2005: Hanoi. p. 16-25.
2. The Academy of Education Development, Avian Flu Baseline Survey Backyard Poultry Farmers of Vietnam. 2005, The Academy of Education Development: Hanoi.
3. R. Fielding et al. (2004). "Avian Influenza Risk Perception, Hong Kong. " Emergency Infectious Disease 11(2005): 677-682.
4. Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, T́nh h́nh cúm A/H5N1 tại Việt Nam, 2003-2005. 2005, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương: Hà Nội.
5. WHO, Avian influenza–epidemiology of human H5N1 cases reported to WHO. 2006, WHO.