Trần Tôn, Trần Chí Thành, Lương Thu Trâm, Trương Thị Xuân Liên.
Pḥng xét nghiệm HIV/AIDS, Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh.
T́nh h́nh nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam đang ngày càng gia tăng và có chiều hướng lan rộng trong cộng đồng. Chiến lược quốc gia pḥng chống HIV/AIDS của Bộ Y Tế hướng tới chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, đặc biệt là những tiếp cận với thuốc kháng Retrovirút (ARV). Tuy nhiên, cùng với việc sử dụng rộng răi ARV, nhất là những trường hợp sử dụng không đúng và đủ liều theo hướng dẫn chuyên môn, sẽ rất dễ phát sinh những chủng vi rút kháng thuốc và đây là một vấn đề rất đáng quan tâm.
Từ tháng 09 năm 2003, với sự hỗ trợ của ANRS, pḥng xét nghiệm HIV/AIDS viện Pasteur TP. HCM đă xây dựng kỹ thuật xác định đột biến kháng thuốc ARV của vi rút HIV-1 và tiến hành khảo sát, đánh giá sơ bộ t́nh h́nh kháng thuốc của HIV-1 trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS chưa điều trị ở Việt Nam. Đồng thời, chúng tôi cũng đă tham gia hệ thống đánh giá chất lượng kỹ thuật của ANRS và đều đạt chất lượng.
Khảo sát thực hiện trên 25 mẫu máu bệnh nhân chưa điều trị ARV đến tại pḥng khám Viện Pasteur TP. HCM và 60 mẫu máu của thai phụ nhiễm HIV nhưng chưa điều trị đến khám thai tại Bệnh Viện Phụ sản Hùng Vương. Tiến hành phân tích tŕnh tự để t́m đột biến kháng thuốc trên vùng gene mă hóa Protease, RT, và định tưp trên vùng gene Env của vi rút (theo qui tŕnh và hướng dẫn chuẩn của ANRS).
70 mẫu đă được giải tŕnh tự trên cả 3 vùng gene (20/25 bệnh nhân chưa điều trị, 50/60 thai phụ). Chủng vi rút lưu hành chủ yếu là HIV-1 thứ tưp tái tổ hợp CRF-01 AE (98,6%).
Trên vùng gene mă hóa RT, có hiện diện của đột biến chính yếu (major mutation) V75M có tính kháng cao với thuốc NRTI (D4T và ddI) ở một thai phụ (tần suất 1,45%). Ghi nhận này cho thấy khả năng lưu hành của chủng HIV-1 kháng thuốc trong cộng đồng. Đột biến M41L, T69T/N là 2 đột biến phụ gây kháng các thuốc NRTI cũng được ghi nhận với tần suất 1,45%. Ngoài ra, cũng ghi nhận nhiều đột biến đa h́nh (polymorphism) trên vùng gene RT trên các chủng HIV-1 thu thập
Trên vùng gene mă hóa Protease, không phát hiện đột biến chính yếu đối với thuốc ức chế Protease (PI) mà chỉ có sự hiện diện của một số đột biến như L10V(1. 45%), I13V(55. 1%), G16E(39. 1%), K20/R/I/E(13%), L33F(1. 45%), E35D(91. 3%), M36I(100%), R41K(95. 7%), I62V(97. 1%), L63S/C/P(1. 45%), V82I(1. 45%). Một vài đột biến có tần suất rất cao, tuy nhiên theo một số nghiên cứu, những đột biến này có thể chỉ là những đột biến đa h́nh trên vùng gene mă hóa Protease của thứ tưp vi rút HIV-1 CRF-01 lưu hành chủ yếu ở Việt Nam (chủng chuẩn khi so sánh là thứ tưp B, lưu hành chủ yếu ở Châu Âu). Đây là một vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.
Tran Ton, Tran Chi Thanh, Luong Thu Tram, Truong Thi Xuan Lien.
Laboratory of HIV/AIDS, Pasteur Institute in Hồ Chí Minh City.
In Vietnam, the number of new detected cases has been increasing gradually since the first detected case of HIV infection in 1990. Up to the end of 2005, the estimated number was more than 263 thousand of HIV infection cases with more than 48 thousand of AIDS patients. National strategy for HIV/AIDS Control of Ministry of Health has aimed the efforts at care and treatment, especially the access to Anti-Retrovius (ARV) for HIV/AIDS patients. From 2005, ARV started to be widely available in Vietnam, the number of patients who are using and will be given ARV is going to be greater and greater. With the widely using of ARV, however, the emergence of drug resistance becomes a problem, especially in case of mono or bi-therapy or auto-medicated treatment without rigorous conduct of ARV specialists.
From September 2003, with the support of ANRS, our HIV/AIDS laboratory set up a method for determining resistant mutations to ARV of HIV-1 and participated in the cooperation projects with ARNS on “Drug resistance of HIV-1 among ARV naive patients and HIV positive pregnant women in Vietnam”. We also participated in the quality control system of ANRS on these techniques.
25 blood samples from ARV naive patients coming Pasteur Institute in HCM City for HIV testing and 60 samples from HIV-positive pregnant women (naive to ARV treatment) from Hung Vuong hospital of Obstetrics and Gynecology in HCM City were collected. We used the standardized protocol and algorithm transferred from ARNS for sequencing on 3 coding regions (prot, rt, env) and interpreting of drug resistance.
70 samples were successfully sequenced on all three coding region genes (20/25 of nave patients, 50/60 of pregnant women). HIV-1 CRF01_AE is the most prevalent subtype (98. 60%) in Vietnam.
In the coding region for RT, we found some mutations associated to resistance to NRTIs such as M41L, T69T/N, V75M at low prevalence 1. 45%.
Analyzing the coding region for Protease, we have not detected any major mutation to Protease Inhibitors but there are several mutations such as L10V(1. 45%), I13V(55. 1%), G16E(39. 1%), K20/R/I/E(13%), L33F(1. 45%), E35D(91. 3%), M36I(100%), R41K(95. 7%), I62V(97. 1%), L63S/C/P(1. 45%), V82I(1. 45%). Among them are some mutations with high prevalence but they are just the polymorphisms of CRF01_AE subtype (the reference is B subtype), not the resistant mutations to Protease Inhibitors.
Our set-up and standardized method is going to be used for the studies and surveillance of the transmission of ARV resistant HIV-1 strains over time and the emergence of drug resistances in treated patients and in PMTCT program.