Nguyễn Hữu Chí, Vơ Minh Quang, Trần Quốc Tấn,
Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Thành Dũng
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới – TP.HCM
Ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, trong thời gian từ tháng 07/2005 đến 07/2006, chúng tôi chọn được 50 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS để điều trị bằng phác đồ D4T/3TC/NVP và qua nghiên cứu, trong 6 tháng điều trị, cho thấy t́nh trạng suy giảm miễn dịch của bệnh nhân cải thiện rơ rệt (tăng cân, tăng số lượng tế bào lympho, số lượng tế bào CD4). Tiền sử viêm gan của bệnh nhân không làm tăng tác dụng phụ của thuốc trên gan. Không tuân thủ điều trị của bệnh nhân nghiện chích ma tuư là 44% so với nhóm bệnh nhân không nghiện chích là 16%. Mười phần trăm (10%) bệnh nhân xuất hiện lao sau 2-3 tháng dùng ARVs (không biết do phục hồi miễn dịch hay do ARVs không tác dụng). Tỉ lệ bệnh nhân có tác dụng phụ của phác đồ này là 54%, trong đó tác dụng độc trên gan là quan trọng nhất. Thất bại điều trị (kháng thuốc) là 20%, đ̣i hỏi cần có các thuốc ARVs bậc 2 để thay thế cho những trường hợp này.
Tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới (BVBNĐ), số bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nhập viện ngày càng tăng, đặc biệt trong ṿng 3 năm gần đây, với nhiều biểu hiện nhiễm trùng cơ hội (NTCH) và t́nh trạng suy giảm miễn dịch trầm trọng, 93% bệnh nhân nhập viện có biểu hiện AIDS, v́ vậy ngoài việc kiểm soát NTCH, sử dụng các thuốc chống HIV(gọi tắc là ARV) rất cần thiết để nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ và gia tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Theo đề nghị của WHO về việc sử dụng ARV cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS ở các nước đang phát triển, những nơi có nguồn tài chánh eo hẹp, phác đồ nên sử dụng gồm 2 NRTIs + 1 NNRTI, cụ thể là Zidovudine (AZT) hoặc Stavudine (D4T) + Lamivudine (3TC) + Nevirapine (NVP) hoặc Efavirenz (EFV). Tuy nhiên qua thực tế lâm sàng, hầu hết bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS nhập viện tại BVBNĐ đều trong t́nh trạng thiếu máu với dung tích hồng cầu (DTHC) trung b́nh là 30,6%. Bên cạnh đó, vào thời điểm bắt đầu nghiên cứu, EFV chưa có tại thị trường Việt Nam, v́ vậy, để thực hiện phác đồ điều trị theo đề nghị của WHO, chúng tôi nhận thấy nên thay AZT bằng D4T.
Công thức D4T/3TC/NVP đă chứng tỏ được hiệu quả và khả năng ứng dụng cao ở các nước trong khu vực như Campuchia, Thái Lan. Đồng thời chúng tôi cũng muốn xác định tính hiệu quả, độ dung nạp của phác đồ này trên người Việt Nam trong điều kiện thực tiễn, hy vọng phổ biến cũng như áp dụng cho nhiều địa phương khác. Nghiên cứu này được xem như là một cuộc khảo sát thăm ḍ tính hiệu quả và độ dung nạp trên bệnh nhân AIDS đến khám tại BVBNĐ trong điều kiện về cơ sở vật chất và nhân sự hiện tại.
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả trường hợp.
- Cở mẫu dự kiến: 50 bệnh nhân.
- Thời gian nghiên cứu: 6 tháng cho mỗi bệnh nhân, không kể thời gian nhận bệnh. Nghiên cứu bắt đầu vào tháng 7/2005 và chấm dứt vào tháng 7/2006. Thuốc ARV sử dụng trong nghiên cứu do Quỹ toàn cầu TW cấp.
- Chẩn đoán nhiễm HIV dựa vào 3 tests kháng thể anti-HIV thực hiện tại BVBNĐ theo hướng dẫn của Bộ Y Tế.
- Các xét nghiệm sinh hoá, huyết học, x quang, CD4/CD8,... được thực hiện tại khoa xét nghiệm BVBNĐ.
- Bệnh nhân được nhóm nghiên cứu chọn lựa và theo dơi, khám định kỳ tại pḥng khám ngoại trú HIV (P8) với hồ sơ bệnh án theo mẫu của QTCTW.
- Bệnh nhân được xác định nhiễm HIV, đến khám bệnh trong thời gian 7/2005 – 1/2006.
- Đồng ư tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện[1]
- Không có biểu hiện nhiễm trùng cơ hội đang tiến triển[2]
- Số lượng tế bào CD4 < 200/mm3.
- Không có những biểu hiện của rối loạn sinh học quan trọng[3]
- Chưa dùng ARV[4]
- Không mang thai (nếu là phụ nữ).
- Không có tiền sử dị ứng với các thuốc trong nghiên cứu.
- Chẩn đoán xác định nhiễm HIV, xác định giai đoạn bệnh, đánh giá NTCH, xác định t́nh trạng sức khoẻ tại mỗi thời điểm nghiên cứu.
- Thuốc ARV được sử dụng theo liều lượng như sau: D4 30 mgX2 lần/ngày (đối với BN <60 kg); 40 mgX2 lần/ngày (đối với BN >60kg) + 3TC 150 mgX2lần/ngày + NVP 200 mg trong 2 tuần đầu, sau đó 200 mgX2 lần/ngày. Thuốc được cấp phát tại pḥng khám ngoại trú theo chỉ định của bác sĩ trong nhóm nghiên cứu. Mỗi lần đến khám, BN được đánh giá mức độ tuân thủ qua số liều đă sử dụng.
|
|
D-14 |
D0 |
D14 |
M2 |
M3 |
M4 |
M5 |
M6 |
|
Lâm sàng |
X |
X |
X |
X |
X |
X |
X |
X |
|
Cận lâm sàng |
X |
|
|
|
X |
|
|
X |
Bảng 1: Thời điểm theo dơi lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân.
|
|
CTM |
SGOT SGPT |
BUN/ Creatinin |
Glycemia |
AntiHCV HBsAg |
X quang phổi |
CD4 |
|
D-14 |
X |
|
X |
X |
X |
X * |
X |
|
M3 |
X |
X |
X |
|
|
|
|
|
M6 |
X |
X |
X |
|
|
X |
X |
Bảng 2 – Lịch xét nghiệm cho bệnh nhân
D-14: sau khi tham vấn và bệnh nhân đồng ư tham gia nghiên cứu; D0: có kết quả xét nghiệm, nhóm nghiên cứu chọn lựa và điều trị ARV; D14: xem xét tác dụng phụ của thuốc và thay đổi cách dùng NEV
M3, M6: thời điểm 3 và 6 tháng.
Mỗi bệnh nhân được theo dơi lâm sàng và làm xét nghiệm vào các thời điểm ghi trong Bảng 1 và 2. Chọn bệnh vào D-14 và D0, nếu bệnh nhân đủ tiêu chuẩn sẽ được đưa vào chương tŕnh nghiên cứu, bắt đầu dùng ARV vào D0.
|
Sàng lọc |
60 bệnh nhân |
|
|
|
¯ |
|
|
D0 |
50 bệnh nhân |
|
|
|
¯ |
|
|
D14 |
49 bệnh nhân |
Ngưng: 1 (lao) |
|
|
¯ |
|
|
M2 |
44 bệnh nhân |
Ngưng: 1 (dị ứng NVP), lao: 2; chết: 1; bỏ: 1 |
|
|
¯ |
|
|
M3 |
39 bệnh nhân |
Ngưng: 3 (viêm gan: 2, lao: 1), bỏ: 1 (nhà xa); chết: 1 |
|
|
¯ |
|
|
M4 |
37 bệnh nhân |
Bỏ: 1 (suy kiệt), ngưng: 1 (lao) |
|
|
¯ |
|
|
M5 |
37 bệnh nhân |
|
|
|
¯ |
|
|
M6 |
35 bệnh nhân |
Chết: 1 (viêm năo), ngưng: 1 (viêm gan) |
Bảng 3: diễn biến và tŕnh tự nghiên cứu
Qua sàng lọc 60 bệnh nhân, chúng tôi chọn được 50 BN đưa vào nghiên cứu. Tuy nhiên, sau 6 tháng, khi chấm dứt nghiên cứu, chúng tôi chỉ c̣n lại 35 bệnh nhân, 15 bỏ cuộc v́ nhiều lư do khác nhau: chết, ngưng thuốc v́ dị ứng, suy kiệt, NTCH, tác dụng bất lợi của ARV (Bảng 3).
Trong mẩu nghiên cứu của chúng tôi, phái nam chiếm 72%, tuổi trung b́nh là 32, hầu hết ở giai đoạn III và IV. BN tương đối c̣n đi lại và làm việc được. Đồng nhiễm HIV và HBV là 22% và HCV là 50%. T́nh trạng suy giăm miễn dịch của BN, đánh giá bằng số lượng tế bào CD4, trước khi điều trị rất trầm trọng (Bảng 4).
|
Đặc tính |
Tần suất |
Tỉ lệ |
|
Giới tính |
Nam: 36 Nữ: 14 |
72% 28% |
|
Tuổi trung b́nh |
32,3 tuổi (21 – 49 tuổi) |
|
|
Yếu tố nguy cơ |
Tiêm chích ma tuư: 25 Quan hệ t́nh dục (QHTD): 25 |
50% 50% |
|
Giai đoạn lâm sàng WHO |
Giai đoạn I: 1 Giai đoạn II: 0 Giai đoạn III: 37 Giai đoan IV: 12 |
2% 0% 74% 24% |
|
Khả năng vận động |
Làm việc được: 38 Đi lại được: 12 Nằm tại giường: 0 |
76% 24% 0% |
|
Trọng lượng cơ thể |
Trung b́nh: 48,6 ± 7,3 kg (35 – 71 kg) |
|
|
HBsAg |
Dương tính: 11 Am tính: 39 |
22% 78% |
|
Anti-HCV |
Dương tính: 25 Am tính: 25 |
50% 50% |
|
HBsAg (+) và AntiHCV (+) |
7/50 |
14% |
|
Hemoglobin (g/dl) |
12,5 ± 2,2 (7,5 – 18,1) |
|
|
Tổng số lymphocyte /mm3 |
1226 ± 625 (77 – 3000) |
|
|
Số tế bào TCD4/ mm3 |
64 ± 49 (2 – 196)
|
<100/mm3: 38 >100/mm3: 22 |
|
ALT/ml |
46 ± 33 UI (18 – 95) |
|
|
Creatinin (n = 46) /L |
95 ± 33 mmol (46 – 225) |
|
Bảng 4: Đặc điểm của mẩu nghiên cứu
|
Đặc tính |
Tần suất |
Tỉ lệ |
|
Giới tính |
Nam: 24 Nữ: 11 |
68. 6% 31. 4% |
|
Tuổi |
32,7 tuổi (21 – 49 tuổi) |
|
|
Yếu tố nguy cơ |
Tiêm chích: 14 QHTD: 21 |
40% 60% |
|
Giai đoạn lâm sàng |
Gđ I: 1 Gđ II: 8 Gđ III: 21 Gđ IV: 5 |
2. 9% 22. 9% 60% 14. 2% |
|
Khả năng vận động |
Làm việc được: 33 Đi lại được: 12 Nằm tại giường: 0 |
94. 3% 5. 7% 0% |
|
Trọng lượng cơ thể |
Trung b́nh 51. 2 ± 7. 8 kg (33 – 76 kg) |
|
|
HBsAg |
Dương tính: 6 Am tính: 29 |
17. 1% 82. 9% |
|
Anti-HCV |
Dương tính: 13 Am tính: 22 |
37. 1% 62. 9% |
|
Hemoglobin (g/dl) |
12. 9 ± 2,1 (8 – 18,1) |
|
|
Tổng số lymphocyte /mm3 |
1547 ± 562 (659 – 2890) CD4 tăng: 7/35 CD4 giảm: 28/35 |
20% 80% |
|
Số tế bào TCD4/mm3 |
146 ± 83 (28 – 3583) |
|
|
ALT/L |
65 ± 48 UI (17 – 224) |
|
|
Creatinin/L |
112 ± 39 |
|
Bảng 5: Đặc điểm của mẫu nghiên cứu sau 6 tháng
|
Đặc tính |
D0 |
M3 |
P |
|
Trọng lượng cơ thể (n = 43) |
49. 5 ± 7. 4 |
50. 7 ± 7. 6 |
0. 021 |
|
Hemoglobin (g/dl) (n = 40) |
12. 8 ± 2. 1 |
12. 9 ± 2. 2 |
0. 88 |
|
Tổng số lymphocyte /mm3 (n = 39) |
1286 ± 631 |
1569 ± 618 |
0. 019 |
|
Số tế bào TCD4/mm3 |
70 ± 52 |
Không |
|
|
ALT (n = 40) |
48 ± 19 |
65 ± 47 |
0. 02 |
|
Creatinin (n = 31) |
94 ± 36 |
103 ± 26 |
0. 26 |
Bảng 6: So sánh các đặc điểm trước và 3 tháng sau điều trị
- Không t́m thấy sự liên quan có ư nghĩa ALT tăng với t́nh trạng nhiễm HBsAg(+) hay Anti-HCV(+) (P > 0. 05).
- Sau 3 tháng, có cải thiện về cân nặng, không gây thiếu máu, tăng số lượng tế bào lympho, CD4, tăng ALT và creatinin.
|
Đặc tính |
D0 |
M6 |
P |
|
Khả năng vận động (b́nh thường) (n = 35) |
28 (80%) |
33 (94%) |
0. 49 |
|
Giai đoạn lâm sàng (>3) (n = 35) |
34 (97%) |
26 (74%) |
0. 18 |
|
Trọng lượng cơ thể (n = 35) |
49. 3 ± 7. 7 |
51. 2 ± 7. 8 |
0. 007 |
|
Hemoglobin (g/dl) (n = 34) |
12. 6 ± 2. 1 |
12. 9 ± 2. 1 |
0. 38 |
|
Tổng số lymphocyte /mm3 (n = 34) |
1273 ± 690 |
1547 ± 562 |
0. 029 |
|
Số tế bào TCD4/mm3 (n = 35) |
70 ± 52 |
145 ± 83 |
0. 0001 |
|
ALT (n = 35) |
45 ± 18 |
65 ± 48 |
0. 0225 |
|
Creatinin (n = 29) |
89 ± 34 |
112 ± 39 |
0. 007 |
Bảng 7: Đặc điểm bệnh nhân c̣n lại sau 6 tháng điều trị
- Không t́m thấy sự liên quan có ư nghĩa ALT tăng với t́nh trạng nhiễm HBsAg(+) hay Anti-HCV (+) (P > 0. 05).
- Sau 6 tháng dùng thuốc, BN có cải thiện rơ rệt về lâm sàng, không có biểu hiện thiếu máu, tế bào lympho và CD4 tăng. Cần lưu ư là ALT và creatinin vẫn tiếp tục gia tăng.
a. Tử vong:
3/50 (6%), do suy kiệt nặng: 2 (sau 2 tháng điều trị), tổn thương năo nghi do siêu vi: 1 (sau 4 tháng điều trị, có thể do thất bại do điều trị).
b. Độc tính:
|
Độc tính |
Số trường hợp |
Ghi chú |
|
Viêm gan (ALT > 100UI/l) |
14 (28%) |
3 ngưng ARV do ALT tăng trên 5 lần. 11 vẫn c̣n tiếp tục sử dụng. Thời điểm phát hiện hầu hết khi xét nghiệm M3. |
|
Dị ứng |
07 (14%) |
Phát ban, ngứa, đỏ da (D14). 1 trường hợp nặng phải ngưng (M2) |
|
Tiêu hóa (buồn nôn, đau bụng,…) |
07 (14%) |
D14 sau tự hết |
|
Mệt, hoa mắt, mất ngũ |
10 (20%) |
D14 sau tự hết |
|
Tê chân tay |
02 (4%) |
M3-M4 |
|
Tổng số |
27/50 (54%) |
|
Bảng 8 – Độc tính của phác đồ điều trị
c. Lao mới phát hiện: trong quá tŕnh theo dơi: 5/50 (10%) do không có điều kiện nên không xét nghiệm CD4 để đánh giá t́nh trạng miễn dịch khi phát hiện lao.
47/50 (94%) tuân thủ tốt (sử dụng thuốc > 95% liều lượng) cho đến khi có quyết định ngưng theo dơi hay chuyển đi cơ sở điều trị khác. 3 trường hợp bỏ khám và bỏ thuốc (D14: 1, M2: 1, M3: 1) chiếm tỉ lệ 6%. Nguyên nhân: nơi ở quá xa và do t́nh trạng bệnh quá nặng.
Đặc tính ban đầu của các đối tượng nghiên cứu cho thấy bệnh nhân trong lứa tuổi lao động, b́nh quân là 32. 3. 50% là người nghiện chích ma túy. Nam giới chiếm đa số (72%). 94% bệnh nhân ở giai đoạn 3-4. 24% không thể tự phục vụ bản thân được mà phải có người trợ giúp. Trọng lượng cơ thể trung b́nh 48. 6kg. 50% đồng nhiễm HCV (tương đương với 100% bệnh nhân có yếu tố nguy cơ do tiêm chích ma túy). Các xét nghiệm trước điều trị cho thấy bệnh nhân có nồng độ hemoglobin b́nh thường, số tế bào lympho trung b́nh trên 1200/mm3, trong khi đó tất cả các bệnh nhân đều có số lượng tế bào CD4 dưới 200/mm3, b́nh quân là 64/mm3. Biểu hiện một t́nh trạng suy giảm miễn dịch trầm trọng. Như vậy, nếu chỉ dựa vào số lượng tế bào lympho < 1. 200/mm3, tương đương với CD4< 200/mm3, theo hướng dẫn của WHO, chúng ta sẽ bỏ qua rất nhiều trường hợp CD4 giảm nhiều mà số tế bào lympho vẫn c̣n trên 1200/mm3. V́ vậy, vấn đề đánh giá sự liên quan giữa số lượng tế bào lymphô và CD4 trên bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS cần được nghiên cứu thêm để có thể áp dụng vào điều kiện của chúng ta.
Tỉ lệ bệnh nhân không theo hết thời gian điều trị đối với công thức D4T/3TC/NVP là khá cao (15/50). Trong đó tỉ lệ tử vong là 12% (6/50), có thể do bệnh nhân đang ở trong bệnh cảnh quá nặng mà thuốc ARV chưa phát huy được tác dụng. 6% (3/50) đă không tuân thủ tốt (bỏ khám) dù trước khi vào tham gia nghiên cứu bệnh nhân đă được huấn luyện tuân thủ nhiều lần, được đánh giá tuân thủ tốt qua việc hiểu biết bệnh cũng như tầm quan trọng của việc sử dụng thuốc ARV. Nguyên nhân chính xác khai thác được là do nơi ở quá xa với bệnh viện, c̣n các trường hợp c̣n lại khi mới bắt đầu tham gia nghiên cứu bệnh nhân đă ở vào giai đoạn quá nặng, không thể đi khám bệnh và nhận thuốc điều trị được.
Qua thời gian điều trị ngắn ngủi (6 tháng) 50 bệnh nhân, thuốc cấp miển phí, một số xét nghiệm cơ bản không mất tiền, nhưng chỉ có 35/50 (70%) bệnh nhân theo đuổi được chương tŕnh điều trị. Trong số bỏ điều trị, số người nghiện chích ma túy chiếm tỉ lệ cao nhất: 11/25 (44%), so sánh với số bệnh nhân nhiễm HIV qua quan hệ t́nh dục là 4/25 (16%). Đây là đặc điểm quan trọng khi điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS, ma tuư không liên quan đến kết quả điều trị bằng ARVs, thất bại chủ yếu do lối sống của bệnh nhân, do t́nh trạng lệ thuộc khiến họ không tuân thủ điều trị.
So sánh với thời điểm bắt đầu nghiên cứu đă cho thấy khả năng vận động và giai đoạn bệnh nhân có cải thiện, tuy nhiên sự khác biệt không có ư nghĩa thống kê. Nguyên nhân có thể là do thời gian theo dơi chưa đủ dài (6 tháng), đáp ứng điều trị chưa rơ rệt nhất là khi bắt đầu tham gia nghiên cứu bệnh nhân ở trong t́nh trạng rất nặng. Trọng lượng cơ thể của bệnh nhân được cải thiện rơ rệt và có ư nghĩa thống kê (49kg lên 52kg). Theo chúng tôi, đây là một chỉ điểm quan trọng, dễ thực hiện và có giá trị để đánh giá tác dụng của ARVs trên diển tiến bệnh của bệnh nhân.
Về các xét nghiệm cận lâm sàng, nồng độ hemoglobin trước và sau nghiên cứu vẫn không thay đổi có ư nghĩa. Như vậy, phác đồ ARVs trong nghiên cứu của chúng tôi không gây thiếu máu thêm cho bệnh nhân. Các chỉ số đánh giá t́nh trạng miễn dịch của bệnh nhân cải thiện rơ rệt và có ư nghĩa thống kê. Số lượng tế bào lymphocyte tăng rơ rệt (1273/mm3 lên 1547/mm3 với p = 0. 029. Số lượng tế bào CD4 từ 70/mm3 lên 145/mm3 với p = 0. 0001. Như vậy, phác đồ D4T/3TC/NVP có thể khống chế sự phát triển của virus (chúng tôi không có điều kiện thực hiện nồng độ HIV trong máu bệnh nhân để khẳng định vấn đế này), làm cho số lượng tế bào CD4 bị phá huỷ giảm đi.
Về t́nh trạng hủy hoại tế bào gan, qua phân tích thống kê cho thấy t́nh trạng nhiễm siêu vi viêm gan B hay C không ảnh hưởng đến sự thay đổi ALT của bệnh nhân trong 6 tháng điều trị ARV. Sự gia tăng ALT có thể do tác dụng phụ của ARV tế bào gan, làm cho ALT tăng từ 45UI/l lên 65UI/l (p = 0. 025). V́ vậy, khi sử dụng phác đồ D4T/3TC/NVP, thầy thuốc chúng ta nên nên thực hiện transaminases thường quy mỗi 3 – 6 tháng dù không ghi nhận biểu hiện lâm sàng.
Về xét nghiệm chức nặng thận, creatinin máu tăng từ 89 lên 112 micromol/L với p = 0. 007, nhưng số lượng nước tiểu vẫn b́nh thường, bệnh nhân không có rối loạn nào rơ rệt ở thận. Bản chất của sự gia tăng này là ǵ, do nguyên nhân ǵ, qua nghiên cứu này chúng tôi chưa t́m ra được một giải thích thoả đáng.
Tỉ lệ bệnh nhân xảy ra tác dụng phụ không mong muốn đối với phác đồ D4T/3TC/NVP là khá phổ biến 27/50 (54%), trong đó gia tăng nồng độ ALT trong huyết thanh là cao nhất: 28% (14/50). Hầu hết bệnh nhân có hoại tử tế bào gan nhẹ đến trung b́nh, được tiếp tục sử dụng ARV kèm với thuốc nâng đỡ tế bào gan. Tuy nhiên chúng tôi có 3 trường hợp bắt buột phải ngưng thuốc ARV do ALT tăng quá cao mà không có dấu hiệu phục hồi. Tất cả các trường hợp này được phát hiện khi xét nghiệm theo dơi định kỳ vào tháng thứ 3. Từ kết quả này khiến chúng ta nghĩ rằng có lẻ chúng ta nên làm xét nghiệm chức năng sớm hơn, chẳng hạn như hàng tháng kể từ khi bắt đầu dùng thuốc, hy vọng có thể phát hiện bất thường trên tế bào gan sớm hơn tháng thứ 3 đối với bệnh nhân được sử dụng phác đồ D4T/3TC/NVP.
Những dấu hiệu ảnh hưởng đến toàn thân như mệt, hoa mắt, mất ngũ xuất hiện với tần suất cao thứ 2 xuất hiện trong 2 tuần đầu dùng thuốc, nhưng không trường hợp nào nghiêm trọng phải ngưng thuốc.
Dấu hiệu tê chân tay nghi ngờ do viêm đa dây thần kinh ngoại biên, chiếm tỉ lệ không cao (4%) xuất hiện sau thời gian khá dài dùng thuốc (3–4 tháng) và không nghiêm trọng đến mức phải ngưng thuốc. Tiếp tục dùng thuốc, không can thiệp ǵ thêm, chúng tôi cũng không ghi nhận bệnh diễn tiến nặng hơn.
Triệu chứng ở đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn, đau bụng cũng như phản ứng dị ứng như phát ban ngứa chiếm 14%. Tất cả các trường hợp dị ứng đều được tiếp tục sử dụng kèm với sử dụng thuốc chống dị ứng và đề có kết quả tốt trừ 1 trường hợp quá nặng bắt buột phải ngừng thuốc.
10% (5/50) bệnh nhân xuất hiện lao sau khi bắt đầu điều trị ARV. Thời điểm phát hiện lao là 2–3 tháng sau khi sử dụng thuốc. Điều này có thể là do tiến tŕnh nhiễm HIV/AIDS của bệnh nhân nặng hơn, ARVs không khống chế nổi HIV (thất bại điều trị ARV), cũng có thể là nhiễm lao mới, cũng có thể lao xuất hiện trong hội chứng phục hồi miễn dịch. Do thiết kế ban đầu không bao gồm theo dơi các trường hợp phục hồi miễn dịch, đồng thời chúng tôi cũng không có điều kiện làm xét nghiệmnồng độ HIV trong huyết thanh, cho nên chúng tôi chưa đủ dữ liệu để xác định rơ những trường hợp này.
3 bệnh nhân tử vong do suy kiệt và viêm năo chứng tỏ ARV không có tác dụng ở những trường hợp này. Chúng tôi cũng có 6/35 bệnh nhân được theo dơi và điều trị đủ 6 tháng nhưng số lượng tế bào CD4 vẫn tiếp tục giảm so với trước điều trị. Như vậy có 9/50 (18%) bệnh nhân xem như không đáp ứng với công thức D4T/3TC/NVP và cần chuyển sang phác đồ khác. Điều này cho thấy trong những trường hợp này, việc đánh giá hiệu quả, thất bại điều trị rất quan trọng, trong đó vai tṛ của tải lượng virus và xét nghiệm kháng thuốc (kiểu h́nh và kiểu genes) rất cần thiết, không chờ đến khi số lượng tế bào CD4 giảm rơ rệt và lúc này bệnh quá nặng, đe doạ tử vong.
Phác đồ D4T/3TC/NVP đă được sử dụng trong điều kiện hiện nay để điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS và qua nghiên cứu của chúng tôi, trong 6 tháng điều trị, cho thấy t́nh trạng suy giảm miễn dịch của bệnh nhân cải thiện rơ rệt qua việc tăng cân, tăng số lượng tế bào lympho, số lượng tế bào CD4. Tiền sử viêm gan của bệnh nhân không làm tăng tác dụng phụ trên gan. Vấn đề điều trị sớm với ARV cần thiết phải đặt ra v́ tỉ lệ tử vong trong nhóm nghiên cứu c̣n khá cao (6%), trước khi bệnh quá nặng. Đặc biệt lưu ư t́nh trạng tuân thủ kém của bệnh nhân nghiện chích ma tuư, đối tượng đang chiếm đa số hiện nay. Tác dụng phụ của phác đồ này là đáng kể (54%), trong đó tác dụng độc trên gan là quan trọng nhất. Thất bại điều trị (kháng thuốc) khá cao (20%) đ̣i hỏi cần phải có các thuốc ARVs bậc 2 để thay thế cho những trường hợp này.
1. Libman H. - Beth Israel Deaconnes Medical Centre Healthcare Associates HIV Manual and Guidelines Sept. 2005.
2. The PIH Guide to the Community-based Treatment of HIV in resource=poor setting – Second Edition, 2006.
3. Bartlett J. G. ,Gallant J. E. – 2005-2006 Medical Management of HIV infection, pp: 62 – 68
4. Gallant J. E. – Clinical strategies for Iniation of antiretroviral therapy – CCO: HIV/AIDS Annual update 2006.
5. Groupe ds Experts – Prise en charge médicales des personnes infectées par le VIH – Rapports 2006: pp 22-51
6. Hammer S. M. et al – Treatment for Adults: HIV infection 2006 Recommendations of the international AIDS Society, US Panel – JAMA 2006;296: 827-843
7.
Huang L. et al – Intensive care of patients with HIV infection – N Engl J
Med 2006; 335:
173-181
Nguyễn Hữu Chí, Vơ Minh Quang, Trần Quốc Tấn,
Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Thành Dũng
Hospital for Tropical Diseases, HCM City
In the Hospital for Tropical Diseases, from 07/2005 to 07/2006, we selected 50 HIV/AIDS patients for treating with D4T/3TC/NVP. After 6 months, the immunodepression of patients clearly improved (increased body weight, increased total peripheral lymphocytes, increased lymphocytes TCD4). Their past history of hepatitis was not correlated with hepatotoxicities of ARVs. The non- adherence occured in IVDUs (44%) was higher than non-IVDUs (16%).TB were detected in 5 patients (10%) during treatment (we do not know the relation between this disease with the immunologic restauration syndrome or treatment failure). The occurrence of side-effects in our patients was high (54%), especially hepatotoxicities.Treatment failure was noted in 20% of patients, so the need of alternative or second-line regimen was urgent for these patients.
[1] Có bảng đồng ư tham gia nghin cứu để đảm bảo vấn đề y đức.
[2] Chưa phát hiện được nhiễm trùng cơ hội vào thời điểm bắt đầu tham gia nghiên cứu hoặc nhiễm trùng cơ hội đă được điều trị ổn định.
[3] ALT tăng trên 2 lần, Hct dưới 20%, Creatinin, Đường huyết tăng cao.
[4] Chưa dùng ARV hoặc có dùng nhưng đă ngưng sử dụng trên 6 tháng.