ĐÁNH GIÁ T̀NH TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC
DỊCH VỤ CHĂM SÓC BẢO VỆ SỨC KHỎE CHO KHÁCH DU LỊCH
Ở TỈNH KHÁNH H̉A (2002 – 2004)

Phùng T. Thanh Tú(1), Viên Chinh Chiến(1), Nguyễn Thị Hồng Tú(2), Trương Tấn Minh(3),
Trương Công Luận(1), Lê Thanh Tùng(1), Trịnh Thị Bích Thủy(1), Phạm Thanh Hùng(1), Lê Thị Kim Loan(1)

(1) Viện Pasteur Nha Trang, (2) Cục Y tế Dự pḥng, (3) Sở Y tế Tỉnh Khánh Ḥa

Tóm tắt:

Tiến hành điều tra đánh giá t́nh trạng vệ sinh môi trường và các dịch vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho khách du lịch bằng phương pháp cắt ngang tại 9 khu du lịch biển đảo ở Nha Trang Khánh Ḥa với 2412 du khách, 150 mẫu không khí, 120 mẫu thực phẩm chế biến và hàng rong, 30 mẫu nước ăn uống và nước biển tại địa bàn nghiên cứu. Kết quả cho thấy:

-        T́nh trạng vệ sinh môi trường: Các khu du lịch biển đảo xử lư chất thải không đạt yêu cầu vệ sinh. Chất lượng nước ăn uống đạt tiêu chuẩn vệ sinh về mặt hóa học, không đạt về chỉ tiêu vi sinh. Nước biển đạt tiêu chuẩn vệ sinh. Chất lượng không khí tốt. Hệ thống vệ sinh công cộng tương đối tốt và đầy đủ, khu du lịch Ḥn Chồng không có hệ thống vệ sinh công cộng.

-        Các dịch vụ bảo vệ sức khỏe cho du khách: Thực phẩm bị nhiễm bẩn, không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm (tỉ lệ số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cao với chỉ tiêu tổng số vi khuẩn hiếu khí, Coliform, Clostridium perfringens, chiếm tỷ lệ từ 25% – 80%). Các băi tắm an toàn, ngoại trừ băi tắm khu du lịch Dốc Lết. Dịch vụ thể thao dưới nước như lặn biển, môtô nước chưa an toàn, kéo dù (bay lên trời) thuyền buồm, lướt sóng an toàn. Dịch vụ chăm sóc y tế chưa tốt.

-        Các vấn đề xă hội liên quan đến tâm lư sức khỏe của du khách: E ngại chung của du khách về t́nh trạng an ninh chưa tốt (32,9%), tệ nạn xă hội c̣n nhiều (27,2%), vệ sinh môi trường không tốt (25,7%, mặt biển c̣n nhiều rác (16,6%). Du khách than phiền về những điều bất ổn như: nhũng nhiễu khách, ép giá, ăn mày, mất cắp, tệ nạn xạ hội c̣n cao. Các dịch vụ lặn biển, mô tô nước, tàu lượn, kéo dù chưa thu hút du khách v́ họ sợ tai nạn (49,3%).

Các tác giả đă đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng phục vụ du lịch, chăm sóc sức khỏe, hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Kinh tế biển đảo (KTBĐ) của Việt Nam đang phát triển mạnh, đa dạng. Du lịch biển (DLB) là một ngành KTBĐ rất phát triển ở miền Trung nhưng chưa h́nh thành hệ thống cấp cứu trên biển, làm cho việc cứu chữa các bệnh nhân và nạn nhân khách du lịch ở biển-đảo khó khăn. Y HỌC BIỂN (YHB) Việt Nam sẽ giải quyết các vấn đề chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho lao động biển, nhân dân, du khách (DK) vùng biển đảo. Với Khánh Ḥa (KH), YHB sẽ khởi sắc bằng các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho khách du lịch sinh thái biển đảo (DLSTBĐ). Ngành DLB đạt hiệu quả rất cao, thu hút nhiều DK trong, ngoài nước. Hiện nay, công táo bảo vệ môi trường (BVMT) và các phương tiện giao thông thủy (PTGTT) tại các khu du lịch biển đảo (KDLBĐ) c̣n nhiều vấn đề cần giải quyết. Hàng năm, tại các băi biển của Nha Trang Khánh Ḥa (NT,KH) có trẻ em, người lớn chết đuối; một số đảo có người chết do dịch vụ mô tô nước. Từ 1999-7/02: băi tắm NT và 2 đảo DL Ḥn Tằm, Ḥn Mun có 12 vụ chết người; từ năm 2000-6/02: Biển Đại Lănh, huyện Vạn Ninh có 9 người chết đuối. Rác thải gây ô nhiễm bờ biển (ÔNBB) và thực phẩm (TP) bị nhiễm bẩn là những điều đáng lo ngại tại các KDLBĐ. Đề tài "Đánh giá t́nh trạng vệ sinh môi trường & các dịch vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho người du lịch ở tỉnh Khánh Ḥa" với mục tiêu: Đánh giá t́nh trạng vệ sinh môi trường và dịch vụ chăm sóc bảo vệ sức khỏe người du lịch tại các khu du lịch biển đảo ở Khánh Ḥa; xác định các vấn đề xă hội liên quan đến tâm lư, sức khỏe khách du lịch & các hoạt động của các đội cứu hộ tại các điểm nghiên cứu; đề xuất giải pháp để nâng cao cảnh quan vệ sinh môi trường, hiệu quả của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho khách du lịch biển đảo.

II. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

2. 1. Đối tượng:

DK trong ngoài nước, các nhà hàng, khách sạn, thực phẩm và nước sinh hoạt tại các KDLBĐ KH.

2. 2. Mô tả phương pháp nghiên cứu (NC):

2. 2. 1. Phương pháp nghiên cứu:

Điều tra theo phương pháp cắt ngang. Mỗi nội dung có cỡ mẫu tương ứng.

2. 2. 1. Địa bàn NC:

Chọn 9 điểm: băi biển NT, bến đ̣ Vĩnh Nguyên, băi tắm Ḥn Chồng, Thủy cung Trí Nguyên, KDL Con Sẻ Tre, KDL Ḥn Tằm, K DL Ḥn Mun, KDL Dốc Lết, KDL Đại Lănh.

2. 2. 2. Cỡ mẫu NC:

-        T́nh trạng VSMT: 30 cụm ngẫu nhiên trong 9 điểm; chất lượng không khí (CLKK): mỗi điểm NC đo 2 đợt theo 2 mùa gốm 150 mẫu; CL nước: 30 mẫu nước ngọt, nước biển tại băi tắm; VSTP: 90 mẫu thực phẩm chế biến (TPCB) tại các nhà hàng, 30 mẫu TP bán rong.

-        Điều tra các dịch vụ du lịch (DVDL): 30 WC, 30 nhà tắm nước ngọt tại 9 cửa hàng, khách sạn…

-        Điều tra DK: lấy mẫu ngẫu nhiên với cỡ mẫu n = 602 người tuy nhiên để tăng độ tin cậy, chúng tôi điều tra gấp 4 lần, tức n = 2408 người

2. 2. 3. Kỹ thuật nghiên cứu (KTNC)

Sử dụng KT của Viện YHLĐ để xác định CL KK và nước, XN VSTP theo TCVN.

a)      Xác định chất lượng không khí: 4 chỉ tiêu

b)      Kiểm tra vệ sinh nước: 17 chỉ tiêu lư hóa và vi sinh.

c)      Kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm: 7 chỉ tiêu

d)      Điều tra băi tắm & du khách: Sử dụng bộ câu hỏi để điều tra nhân viên quản lư, du khách, kết hợp với quan sát và chụp ảnh.

e)      Phân phát tờ rơi: phát cho DK, hướng dẫn viên DL tại các KDLBĐ, KS, nhà hàng

f)        Xử lư số liệu: tính toán và xử lư bằng phần mềm EPIINFO 6. 04

III. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NGHIÊN CỨU

3. 1. Đánh giá TT VSMT,DVBVSK cho DK tại KDLBĐ-KH:

3. 1. 1. Đánh giá TT VSMT tại KDLBĐ-KH:

-        Điều tra về chất thải:

§         Chất thải rắn: Rác thải NT được thu gom từ sáng sớm, khoảng 250 tấn/ ngày, đổ và chôn lấp phía Bắc TP, chưa có ḷ thiêu hủy rác; từ tháng 6/03 Cty Môi trường – Đô thị vớt rác trên biển và cào rác trên băi biển dọc đường TPhú. Năm 2002, đầu năm 2003 số thùng rác đường Trần Phú rất ít, đến năm 2004 số thùng rác tăng lên, dọc đường biển sạch đến 12 giờ. Từ 13 giờ đến 20 giờ và từ 20 giờ đến 24 giờ đường phố không sạch (DK, dân, các hàng rong, quán ăn đêm xả rác), đến 3 giờ sáng hôm sau mới được Cty Môi trường – Đô thị quét dọn. Rác thải của các băi tắm Ḥn Tằm, Ḥn Lao, Suối Hoa lan, Dốc Lết, Đại Lănh, Thủy Cung đều được tập trung xa KV tắm và đốt. Tại băi tắm KDL Đại Lănh & Dốc Lết có 2 băi rác nằm gần băi biển (cách băi tắm khoảng 500m). Việc đốt rác tại các KDLBĐ chưa hoàn toàn cháy hết tạo điểm tập trung cho ruồi nhặng sinh sản.

§         Chất thải lỏng chưa được quản lư và xử lư triệt để: nhiều khu dân cư thải nước thải vào cống thành phố, không qua xử lư, thải thẳng ra biển. Ư thức của dân & DK c̣n kém trong việc BVMT: thải nước thải ra đường, phóng uế bừa băi, chó thả rông; c̣n tồn tại một số chợ cóc

(KV công viên 2/4 từ 5 – 8 giờ sáng, nhiều người tập trung buôn bán cá tôm tươi; một số hộ dân tự do lập nghiệp tại các KDL, thải bỏ chất thải xuống biển: dưới chân cầu Trần Phú, KV Ḥn Tre, khu vực cầu Hà Ra, KDL Bảo Đại …).

-        Điều tra về chất lượng nước ngọt, nước biển: kiểm tra Coliform/100ml và Coliform chịu nhiệt/100ml thấy rằng tất cả các mẫu nước sinh hoạt tại KDLBĐ không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về vi sinh chiếm 89%. Về mặt hóa học (kiểm tra 15 chỉ tiêu), tất cả các mẫu đạt TCVS, ngoại trừ chỉ tiêu chất hữu cơ trong môi trường a xít cũng đạt đến 93,3%. Nước biển tại các băi tắm sạch về mặt vi sinh và hóa học (26 chỉ tiêu), ngoại trừ chỉ tiêu amoniac (cao tại băi biển Đại Lănh v́ có khu dân cư thải nước thải trực tiếp xuống biển Đại Lănh.

-        Chất lượng không khí rất tốt, ngoại trừ nồng độ khí H2S và NH3 xấp xỉ TCCP tại dọc bến tàu Cầu Đá, dọc bến tàu KDL Long Phú, tại nhà tắm của KDL Con Sẻ Tre, Suối Hoa Lan và băi rác lộ thiên của KDL Đại Lănh.

-        Hệ thống vệ sinh công cộng (VSCC): tương đối tốt và đầy đủ tại các KDL theo thứ tự: Băi tắm NT, Thủy cung Trí Nguyên, KDL Dốc Lết, KDL Ḥn Tằm,KDL Ḥn Lao, KDL Suối Hoa Lan, KDL Con Sẻ Tre, KDL Băi Dài. KDL Ḥn Chồng không có DV VSCC; các băi tắm dọc đường Trần Phú (từ KS Anamandara – cầu Trần Phú) từ cuối năm 03 đến hết 04 được đặt 36 thùng rác lớn và 86 thùng rác, cuối năm 04 có 8 nhà tắm nước ngọt, 10 WC, 476 ghế đá.

3. 1. 2. Điều tra các DV BVSK:

-        Điều tra t́nh trạng VSTP: KT VSATTP theo 7 chỉ tiêu (chỉ điểm vệ sinh và chỉ tiêu vi khuẩn gây bệnh), thấy rằng tỉ lệ số mẫu không đạt TCVS cao với chỉ tiêu: TSVK HK (80% với HS sống ăn liền, 75% rau sống); Coliform (80% với hải sản sống; Clostridium perfringens: 80% HS sống, 25% với rau sống. 100% thực phẩm bán rong không đạt TC-VSATTP với chỉ tiêu TS vi khuẩn hiếu khí và coliform/g, kế theo là các sản phẩm chế biến từ ngũ cốc có CL-VS kém (TSVKHK chiếm 70%, Coliform chiếm 60%). Các nhà hàng chưa sạch,c̣n nhiều ruồi

-        Các băi tắm an toàn xếp theo thứ tự: KDL Ḥn Tằm, băi tắm NT, KDL Đại Lănh, Ḥn Lao, Suối Hoa Lan. Băi tắm KDL Dốc Lết chưa an toàn v́ hàng ngày xe mô tô của dân chạy ngang qua băi tắm nguy hiểm cho DK nhất là trẻ em chạy ra tắm biển.

-        Dịch vụ thể thao dưới nước (DVTTDN): DV lặn biển được tổ chức tại KDL Ḥn Tằm,BB NT, KDL Ḥn Mun do 5 CLB lặn biển đảm nhận. Các CLB lặn biển có thiết bị bơi lặn rất tốt. Các KDL & CLB bơi lặn thiếu kiểm tra SK của DK trước khi lặn nên đă tai nạn khi lặn biển. Dịch vụ mô tô nước: Được hướng dẫn kỹ nhưng do không khoanh vùng đua mô tô nước nên mô tô nước đă đâm vào thuyền đánh cá, đă có tai nạn xảy ra. DV Kéo dù (bay lên trời) an toàn, chưa có tai nạn. DV thuyền buồm, lướt sóng chưa có tai nạn. DVTTDN c̣n hạn chế: thiếu kiểm tra SK cho DK trước khi SD; không có hành lang an toàn ngăn cách giữa vùng tắm và DVTTDN.

-        Dịch vụ CSYT tại các KDL chưa tốt (thiếu CBYT, không được tập huấn sơ cấp cứu tai nạn chết đuốc ó tủ thuốc cấp cứu nhưng chưa đạt YC CC thể thao dưới nước. KDL Con Sẻ Tre, Băi Dài, NT không có DV CSYT). Thiếu chú ư phục vụ người khuyết tật; thiếu dịch vụ du lịch chữa bệnh (DVDLCB).

-        Hoạt động của các đội cứu hộ: từ năm 00 đến đầu năm 03 các đội cứu hộ chưa có hoặc có những hoạt động không chuyên nghiệp nên tai nạn và số người chết đuối cao nhưng đến năm 03 giảm và năm 04 có 1 người chết đuối. Từ năm 02 – 04 có 293 tai nạn (đứt chân tay do giẫm gai, hà cắt, sắt nhọn), 17 người chết (nguyên do khách từ xa đến, tắm một ḿnh không biết bơi, chở quá tải, trẻ em không được quản lư chặt khi tắm biển). Viện Pasteur NT mở 3 lớp TH về cứu hộ trên biển cho 167 người ở miền Trung (KH 94 người). Tai nạn giảm do các đội cứu hộ HĐ tốt hơn sau khi tập huấn & được lănh đạo các KDLBĐ quan tâm đầu tư. Đội cứu hội của KDL Ḥn Tằm tốt nhất. Băi tắm NT đến 2004 có 12 thanh niên XK làm công tác cứu hộ. Hạn chế của các đội cứu hộ: thiếu cḥi quan sát,không mặc quần áo màu để dễ nh́n thấy,thời gian quan sát DK chưa hợp lư.

-        An toàn giao thông thủy (ATGTT) trong du lịch biển đảo: Năm 03 GTĐT bến tàu Cầu Đá Vĩnh Nguyên, bến tàu ra đảo Con Sẻ Tre, bến tàu KDL Long Phú chưa an toàn: Nhiều tàu thuyền cũ là tàu gia dụng sửa lại, không đủ phao cứu sinh, c̣n SD người điều khiển phương tiện <18 tuổi. Sau khi có CV1385/UB 11/9/2003 của UBND TP về tăng cường KT AT GTĐT nội địa, BQL bến tàu DL Cầu Đá Vĩnh Nguyên đă thực hiện biện pháp kiểm soát GTĐT: kiểm tra ATKT của 110/144 phương tiện đang hoạt động tại bến tàu Cầu Đá; các thuyền này đầy đủ áo phao, phao cứu sinh và các dụng cụ cấp cứu khác; PTGTT tại các KDL khác chưa được kiểm tra.

3. 2. Các vấn đề XH liên quan đến tâm lư, SK-DK, hoạt động của các đội cứu hộ.

3. 2. 1. Nhận xét của DK về VSMT, VSATTP, PC. HIV/AIDS,an ninh xă hội (ANXH)

-        Tổng số DK được điều tra 3 năm: 2412 trong đó có 407 khách ngoại quốc (KNQ). Độ tuổi của DK từ 13 đến 50; gần 45,4% khách quay lại NT lần 2 và 3. Lư do thu hút khách v́ cảnh đẹp. T́nh trạng an ninh chưa được đánh giá cao. E ngại chung của DK khi đi du lịch ở KH: t́nh trạng an ninh chưa tốt (32,9%), tệ nạn XH c̣n nhiều (27,2%), VSMT không tốt (25,7%, mặt biển c̣n nhiều rác (16,6%). DK than phiền về những điều bất ổn như: nhũng nhiễu khách (40,1%), ép giá (26,1%), ăn mày (25,2%), mất cắp (16%), trong khi đó họ nhận xét chính quyền thiếu quan tâm giải quyết chiếm đến 27,5%. Đáng tiếc hơn là DK cảm thấy bất ổn về tệ nạn xạ hội c̣n cao (ma túy 25,2% và mại dâm 28,6%). DK tới KH chủ yếu tắm biển, bơi thuyền. Các DV lặn biển, mô tô nước, tàu lượn, kéo dù chưa thật sự thu hút DK v́ giá cao song điều quan trọng hơn hết là họ không cảm thấy an tâm khi SD các DV này. Đa phần DK sợ tai nạn (49,3%) v́ không thấy đội cứu hộ(43,6%) cũng như trang bị pḥng hộ kém (41,4%),chỉ có 15,7% DK thấy đội cứu hộ hoạt động tốt (Ḥn Tằm). Lư do cứu hộ chưa tốt:: nhân viên cứu hộ không chuyên nghiệp (18,6%), tŕnh độ chuyên môn chưa tốt (19,8%), không có bảng hướng dẫn (19,2%),ở xa DK (10,2%).

-        Các hoạt động truyền thông để tăng cường BVMT, PC. HIV/AIDS, VSATTP,CSSK cho DK chưa được tốt. Tỷ lệ DK đánh giá về các h́nh thức được tuyên truyền thấp và chủ yếu tuyên truyền qua panô (50% về PC. HIV, 33,6% về BVMT, 17,6% về VSATTP và CSSK)

-        Thái độ phục vụ của nhân viên DL khá tốt. Công tác CSSK cho DK tắm biển c̣n hạn chế: 4,6% DK biết có y tế băi tắm,đa phần DK khám tại bệnh viện và y tế tư khi ốm hoặc bị tai nạn.

-        Về VSATTP. : Đa phần DK thích ăn các món đặc sản biển nấu chín v́ họ cảm thấy thức ăn không bảo đảm VS (25,5%),chén bát không sạch 18,4%(). Trên thực tế có tới 8,3% DK đă từng bị ngộ độc khi nghỉ tại KH.

3. 2. 2. Góp ư của DK:

DK góp ư nâng cao chất lượng PVDL: như tăng cường công tác an ninh trật tự (35,9%), cải thiện VSMT (26,8%), tăng cường công tác cứu ho (44,3%), tăng cường công tác CSSK KDL (23,1%), tăng cường KS VSATTP (22,3%), tăng cường biện pháp ngăn chặn TNXH (28,6%).

IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4. 1. KẾT LUẬN

4. 1. 1. Đánh giá TT. VSMT và các DV BVSK cho DK tại các KDLBĐKH:

-        VSMT: Các KDLBĐ xử lư chất thải không đạt yêu cầu vệ sinh. Chất lượng nước: nước ăn uống đạt TCVS VSV chỉ chiếm 11%, đạt TCVS-HH 100%; nước biển ven bờ đạt 100% TCVS-VS & HH (trừ NH3 ở KDL Đại Lănh). Chất lượng KK rất tốt, trừ KV nhà tắm Suối Hoa Lan & KDL Con Sẻ Tre. Các CTVSCC tại các KDLBĐ NT-KH tốt, trừ KDL Ḥn Chồng.

-        DV BVSK DK tại các KDLBĐKH

§         TTVSTP tại các nhà hàng: Thực phẩm bị nhiễm bẩn, không bảo đảm VSATTP. KT hải sản chín, hải sản sống ăn liền, rau sống, thịt và ngũ cốc CB, các loại TP bán rong: tỉ lệ số mẫu không đạt TCVS cao đối với các chỉ tiêu sau: TSVKHK (HS sống ăn liền 80%, rau sống 75%, hàng bán rong 100%, ngũ cốc CB 70%), chỉ tiêu Coliform (hải sản sống 80%, hàng bán rong 100%, chế biến ngũ cốc 60%). Clostridium perfringens: HS sống 80%, rau sống 25%.

§         DVTTDN: Các băi tắm an toàn, trừ băi tắm Dốc Lết; Các DV TT dưới nước chưa an toàn.

§         DV. CSYT chưa tốt: thiếu CBYT, thiếu tủ thuốc CC, thiếu dịch vụ PV cho người khuyết tật và dịch vụ du lịch chữa bệnh.

§         HĐ của đội cứu hộ chưa chuyên nghiệp. Đội cứu hộ của KDL Ḥn Tằm HĐ tốt nhất.

§         ATGTĐT chưa bảo đảm an toàn.

4. 1. 2. XĐ các vấn đề XH liên quan đến tâm lư, sức khỏe của DK:

DK trở lại NT-KH lần 2 & lần 3 chiếm 45,5%. DK than phiền về TNXH (27,2%), e ngại vế AN 32,9%) và sự bất ổn về ANTT như đeo bám nhũng nhiễu (40,1%), ăn xin (25,2%), mại dâm (28,6%), ma túy (25,2%), VSMT không tốt (25,7%). Trong khi đó họ cảm thấy chính quyền thiếu quan tâm về những điều bất ổn trên. DK phàn nàn về TNXH (mại dâm, ma túy) cao nhưng nhận biết qua tuyên truyền đối với PC. HIV/AIDS chỉ chiếm 50%. DK cảm thấy không bảo đảm VSTP (25,5%). DVTT dưới nước rất hấp dẫn DK nhưng cứu hộ chưa tốt nên họ sợ nhất tai nạn (49,3%) v́ đội cứu hộ thiếu chuyên nghiệp (18,6%)

4. 2. ĐỀ NGHỊ:

Để phát triển DLBĐ bền vững: Tăng cường công tác cứu hộ, thành lập các đội cứu hộ chuyên nghiệp để bảo đảm an toàn cho DK, điều kiện tiên quyết để hấp dẫn DK đến với NT-KH& VN. Kiểm định định kỳ 3 tháng 1 lần toàn bộ tàu chở khách để bảo đảm an toàn GTĐT. Tăng cường hệ thống YTCS, tăng cường công tác truyền thông PC. HIV/AIDS tại KDLBĐK; Tổ chức DV DLCB và DV PV người khuyết tật; nâng cao ư thức cộng đồng về VSMT, VSATTP qua tập huấn, tờ rơi; Thưởng phạt kinh tế đối với hành vi bảo vệ và xâm hại môi trường; xây dựng đủ hệ thống VSCC, miễn phí cho DK tại tất cả các KDLBĐ ở Nha Trang, Khánh Ḥa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Hoàng Trung Chân, Những yếu tố để thu hút khách du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam (TCDLVN) số 4/04, trang 27.

2.      Hải Dương, An ninh-xă hội trong hoạt động du lịch, TCDLVN số 12/04, trang 42-43.

3.      Anh Minh, Để du khách trở lại Việt Nam: Trách nhiệm không chỉ riêng ai, báo Du lịch số 27 ngày 8/7/04.

4.      Nguyễn Trường Sơn, Cấp cứu trên biển, NXB Y học, Hà Nội, 2003, trang 24-25.

5.      Chu Xingqi, Module system of Medical Training Function At Sea, The Health on Board, The 6th International Symposium on Maritime Health, Philippines, 2001, page 15.

6.      Olaf Jensen, F. Lauren, Surveillance of Seafarers' Health and Working environment, The Health on Board, The 6th International Symposium on Maritime Health, Philippines, 2001, page 20.

 


 

EVALUATION OF THE ENVIRONMENTAL SANITATION STATUS
AND HEALTH CARE SERVICES FOR TOURISTS
IN KHANH HOA PROVINCE, 2002 – 2004

Phung T. Thanh Tu(1), Vien Chinh Chien(1), Nguyen thi Hong Tu(2), Truong Tan Minh(3),
Truong Cong Luan(1), Le Thanh Tung(1), Trinh Thi Bich Thu(1), Pham Thanh Hung(1), Le Thi Kim Loan(1)

(1) NhaTrang Pasteur institute, (2) General Department of Preventive Medicine – MOH,
(3) Health Department of Khanh Hoa province

The cross-sectional study was carried out at 9 tourism areas, with 30 restaurants, 30 hotels, 120 food samples, 60 drinking water samples and 2412 Vietnamese and foreign tourists. The results obtained from the study showed that:

-        For environmental hygiene: Waste in all tourism areas was not in good disposal condition. Drinking water met the chemical standard but did not meet the standard of microbiology. The air was quite fresh.

-        Health protection services for tourists: 25% – 80% of food samples were under hygienic standard (with total aerobic bacteria, Coliform, Clostridium perfringens). All most of beaches were safe except DocLet one. The services of sport under the sea were unsafe. The visitors have complained about tourism service, sanitation condition, social security and social evil problems (for example: importuning 40,1%, price squeezing 26,1%, begging 25,2%, robbing 16%, using drugs, prostitution…). They did not like playing sport under the sea because they worry about an accident.

The authors recommended to improve and to strengthen the tourism services, health care system in Khanh Hoa province.