Trần Ngọc Phương(1), Nguyễn Thanh Long(1), Nguyễn Thu Ngọc(1), Phạm Thị Nhung(1),
Hoàng Anh Thắng(1), Nguyễn Thị Ngọc Thảo(1), Phan Văn Tú(1), Nguyễn Thị Kim Tiến(1), Reiko Saito(2).
(1) Phòng Vi rút Hô hấp, Viện Pasteur TP. HCM.
(2) Khoa Y tế Cộng đồng, Đại học Niigata, Niigata, Nhật Bản.
Các dẫn xuất adamantane, như amantadine (1-aminoadamantane hydrochloride) và rimantadine (α-methyl-1-adamantane methylamine hydrochloride) đã được sử dụng một cách thành công trong việc ngăn chặn và điều trị nhiễm cúm A trong hơn 30 năm nay (từ năm 1976). Các thuốc này có khả năng ngăn chặn vi rút cúm A hòa nhập vào màng tế bào chủ và phóng thích RNA vi rút vào tế bào chất của tế bào bị nhiễm bằng cách khóa kênh ion do đoạn protein M2 xuyên màng vi rút đảm trách. Cơ sở di truyền cho sự kháng thuốc đã được xác định rõ ràng và có liên quan đến các amino acid ở các vị trí 26, 27, 30, 31 và 34 trong vùng xuyên màng của protein M2 (Pinto và cs 1992, Holsinger và cs 1994).
Hiện nay, chúng tôi đang thực hiện chương trình quốc gia giám sát sự lưu hành các chủng cúm thường týp A/H1N1, A/H3N2 và B ở khu vực Miền Nam và Tây Nguyên; đồng thời thực hiện một số nghiên cứu về tính kháng thuốc amantadine ở chủng vi rút cúm týp A/H3N2 và đạt được một số kết quả. Từ 8 mẫu bệnh phẩm ngoáy họng lấy từ bệnh nhân nghi cúm ở miền Nam và Tây Nguyên, Việt Nam năm 2005 và 2006 có phản ứng RT-PCR dương tính với cặp mồi đặc hiệu cho týp vi rút cúm A/H3N2, chúng tôi phân lập được 5 chủng vi rút cúm A/H3N2 trên tế bào MDCK. Sau đó thực hiện giải trình tự gene mã hoá cho protein M2 ở 5 chủng phân lập được đ ể phát hiện đột biến amino acid liên quan đến tính kháng thuốc amantadine và tìm thấy có 4 chủng vi rút cúm A/H3N2 có đột biến ở amino acid vị trí 31, Serine thành Asparagine (S31N), 1 chủng cúm A/H3N2 năm 2005 còn lại không có đột biến kháng thuốc.
Trên cơ sở phân tích đặc tính kháng nguyên bề mặt Hemagglutinin bởi phương pháp ức chế ngưng kết hồng cầu (Hemagglutination Inhibition Assay); chúng tôi tìm thấy tất cả 5 chủng cúm A/H3N2 trên đều được trung hoà bởi kháng huyết thanh kháng chủng A/New York/55/2004(H3N2) được tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng cho giám sát cúm A/H3N2 năm 2005, 2006. Bằng cách giải trình tự gen Hemagglutinin, so sánh sự tương đồng trình tự gene Hemagglutinin giữa các chủng cúm A/H3N2 kháng thuốc và không kháng thuốc amantadine, chúng tôi lập ra cây phát sinh loài phân tích sự tiến hoá của các chủng cúm A/H3N2 lưu hành này và nhận thấy 4 chủng cúm A/H3N2 kháng thuốc cùng thuộc vào một nhóm khác biệt về di truyền so với nhóm các chủng cúm A/H3N2 không kháng thuốc.
Như vậy, chúng tôi nhận thấy ở khu vực miền Nam và Tây Nguyên, Việt Nam năm 2005 và 2006 đã có sự lưu hành chủng cúm týp A/H3N2 kháng thuốc amantadine. Đặc tính kháng nguyên bề mặt HA của các chủng cúm týp A/H3N2 tương tự với chủng A/New York/55/2004(H3N2). Ở những chủng cúm A/H3N2 kháng thuốc, cùng với đột biến amino acid ở vị trí 31 trên protein M2 (Ser thành Asp), thì trên gene HA cũng có nhiều đột biến nucleotide làm cho các chủng cúm A/H3N2 kháng thuốc thuộc vào một nhóm khác biệt so với nhóm các chủng cúm A/H3N2 không kháng thuốc dựa trên phân tích cây phả hệ.
Tran Ngoc Phuong(1), Nguyen Thanh Long(1), Nguyen Thu Ngoc(1), Pham Thi Nhung(1),
Hoang Anh Thang(1), Nguyen Thi Ngoc Thao(1), Phan Van Tu(1), Nguyen Thi Kim Tien(1), Reiko Saito(2).
(1) Respiratory viruses laboratory, Pasteur Institute of HoChiMinh City, Vietnam.
(2) Department of Public Health, Graduate School of Medical and Dental Sciences,
Niigata University, Niigata City, Japan.
Adamantane derivatives, such as amantadine and rimantadine, have been used successfully for prophylaxis and treatment of influenza A virus infection for more than 30 years (since 1976). These drugs block the fusion of the virus and host-cell membranes and the release of viral RNA into the cytoplasm of infected cells by blocking viral M2 protein ion channel. The genetic basis for resistance to these drugs has been well characterised and is associated with an aminoacid substitution at position 26, 27, 30, 31, or 34 in the transmembrane region of the M2 protein (Pinto et al 1992, Holsinger et al 1994).
At present, together with national programme on surveillance of the circulation of ordinary influenza strains A/H1N1, A/H3N2 and B in the South and Central Highland areas, we carried out some research on amantadine resistant characteristic of influenza virus strain of subtype A/H3N2 and obtained some results. Of 8 nasopharyngeal swabs collected from influenza-like illness patients in the South and Central Highland of Vietnam in 2005 and 2006 positive for subtype A/H3N2 by RT-PCR reaction, 5 influenza strains of subtype A/H3N2 were isolated on MDCK cell culture, followed by the M2 gene sequencing of these 5 virus strains. Four isolated A/H3N2 strains were found having the amino acid mutation at position 31, Serine to Asparagine in M2 gene (S31N), the other of 2005 had no the mutation.
Basing on analysing Hemagglutinin surface antigen characteristic using Hemagglutination Inhibition Assay, all 5 A/H3N2 strains were neutralized by antiserum to A/New York/55/2004(H3N2) strain recommended by WHO for A/H3N2 influenza surveillance in 2005, 2006. By sequencing HA gene, comparing the sequence homology of HA gene between amantadine resistant strains and non–resistant strains; and analyzing phylogenetic cluster, the evolution of these circulating influenza viruses were analysed and found that 4 anti-drug influenza strains formed a distinct cluster from non anti-drug influenza strains.
In conclusion, in the South and Central Highland of Vietnam of the year 2005, 2006, there was the circulation of amantadine resistant influenza strains of subtype A/H3N2. In these strains, together with the amino acid mutation S31N, HA gene had a lot of nucleotide mutations that formed a distinct cluster from non anti-drug strains by their phylogenetic analysis. Hemagglutinin surface antigen characteristic of these A/H3N2 influenza strains was similar to that of A/New York/55/2004(H3N2) strain.