CẢI THIỆN CHĂM SÓC ĐIỀU TRỊ VIÊM PHỔI
Ở BỆNH NHÂN NGƯỜI LỚN NHIỄM HIV TẠI TP. HCM

 Nguyen Hong Duc (1), Maryvonne Maynart (2), Nguyen Thi Phuong Lan(2),
Nguyen Huu Lan(1), Nguyen Duc Bang (1), Nguyen Tran Phung(1), Truong Thi Xuan Lien(2), Hoang Thi Quy(1),
Pierre L’Her (3), Yves Germani (4), Charles Mayaud (5) and the ANRS 1260 study group.

(1) Bệnh viện Pham Ngoc Thach - TP. HCM; (2) Viện Pasteur TP. HCM;
(3) Bệnh viện Percy - Clamart, Pháp; (4) Viện Pasteur - Paris, Pháp; (5) Bệnh viện Tenon - Paris, Pháp

GIỚI THIỆU:

Một nghiên cứu về điều trị các nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân nhiễm HIV đă được thực hiện năm 2000 tại Dakar (Senegal), Bangui (Cộng ḥa Trung Phi), TP. Hồ Chí Minh (Việt Nam) và Phnom Penh (Campuchia). Các dữ liệu được phân tích và một danh sách những ưu tiên về can thiệp và nghiên cứu được đưa ra. Điều trị nhiễm trùng hô hấp được xem là khẩn cấp do khả năng gây bệnh và tử vong cao, do thiếu những hiểu biết về các tác nhân gây bệnh, cũng như khả năng thất bại điều trị cao. Đa phần những kiến thức về nhiễm trùng hô hấp đến từ những nước phát triển vùng ôn đới, do vậy việc áp dụng chúng vào những nước nhiệt đới có ít phương tiện xét nghiệm có nhiều bất cập. Hơn nữa cũng thường có nhiều khác biệt về sự phân bố cũng như sự nhạy cảm với kháng sinh của những tác nhân gây bệnh đường hô hấp.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Mô tả tác nhân gây bệnh viêm phổi ở bệnh nhân nhiễm HIV và xây dựng phác đồ hướng dẫn chăm sóc điều trị viêm phổi cộng đồng ở bệnh nhân nhiễm HIV

PHƯƠNG PHÁP:

Nghiên cứu tiền cứu đa trung tâm thực hiện trên bệnh nhân nhiễm HIV nhập viện với triệu chứng hô hấp và bất thường x-quang phổi. Khám lâm sàng và các xét nghiệm về huyết học, đàm, nước tiểu, phân, và dịch rửa phế quản-phế nang khi có thể, được dùng để xác định tác nhân gây bệnh và thiết lập chẩn đoán chính xác.

KẾT QUẢ:

Tại Việt Nam, nghiên cứu được thực hiện vào năm 2003 với sự tham gia củ 2 đơn vị là Viện Pasteur và Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Thu dung, thăm ḍ sinh học, thẩm định kết quả, hoàn tất vào tháng 5 năm 2005. Có 246 bệnh nhân với lượng CD4 rất thấp (<200/mm3) tham gia, 23 người bị loại bỏ. Phân tích phương sai đa yếu tố để xác định yếu tố nguy cơ. Phân tích sơ bộ cho thấy lao, PCP, và viêm phổi do vi trùng là nguyên nhân chính gây viêm phổi ở bệnh nhân nhiễm HIV và cần là mục tiêu chủ yếu khi xây dựng phác đồ chăm sóc ca bệnh. Vi nấm, mycobacteries không điển h́nh, strongyloides, có thể là nguyên nhân và cần làm nội soi phế quản với rửa phế quản-phế nang.

KẾT LUẬN:

Chương tŕnh quốc gia về HIV cần khuyến cáo điều trị dự pḥng nguyên phát PCP với Cotrimoxazole cho bệnh nhân nhiễm HIV.

Hướng dẫn mới về chăm sóc điều trị viêm phổi ở bệnh nhân nhiễm HIV ở VN đang được xây dựng nhằm ứng dụng ở 3 tuyến khác nhau về khả năng kỹ thuật chẩn đoán.


 

IMPROVED CASE MANAGEMENT OF HIV POSITIVE ADULT PATIENTS PRESENTING WITH RESPIRATORY INFECTIONS
IN HOCHIMINH CITY

 Nguyen Hong Duc (1), Maryvonne Maynart (2), Nguyen Thi Phuong Lan(2), Nguyen Huu Lan(1),
Nguyen Duc Bang (1), Nguyen Tran Phung(1), Truong Thi Xuan Lien(2), Hoang Thi Quy(1),
Pierre L’Her (3), Yves Germani (4), Charles Mayaud (5) and the ANRS 1260 study group.

(1) Pham Ngoc Thach Hospital, HCM City, Vietnam; (2) Pasteur Institute, HCM City, Vietnam
(3) Percy Hospital, Clamart, France; (4) Pasteur Institute, Paris, France; (5) Tenon Hospital, Paris, France

Introduction:

A study of case management of opportunistic infections in HIV infected persons was performed in 2000 in Dakar (Senegal), Bangui (Central African Republic), HoChiMinh City (Vietnam) and Phnom Penh (Cambodia). Data were analyzed and a list of priorities for intervention and research was devised. In these cities, it was considered urgent to improve case management of respiratory infections due to their high morbidity and mortality rates, to the lack of knowledge on responsible pathogens, and to high failure rates of treatment. Most available data on respiratory infections come from developed countries with temperate climate. The use of standard case management procedures from these developed countries is inadequate in tropical countries where lack of laboratory and treatment services is common. Furthermore, there are often differences between tropical regions regarding the distribution of pathogens responsible for respiratory infections and regarding their respective drug sensitivity patterns.

Objective:

The objectives of the study are to describe the pathogens responsible for pneumonia in HIV positive patients and to define algorithms for standard case management of HIV positive patients presenting with community-acquired pneumonia.

Methodology:

International prospective study of HIV-positive patients admitted to the hospital with respiratory symptoms and chest X-ray abnormalities. Clinical investigations and laboratory tests performed on blood, sputum, urine, stools and bronchoalveolar lavage specimens when available, will be used to determine specific microbiologic diagnoses and to establish the best clinical diagnosis.

Results:

In Vietnam, the study started in 2003 and two centers were involved: Pham Ngoc Thach Hospital and Pasteur Institute of HoChiMinh City. Recruitments, biological investigations and expertise ended in May 2005. 246 patients with very low CD4 count (< 200) were enrolled. 23 were excluded. Multivariant analysis is in progress to identify risk factors. Preliminary analysis show that TB, PCP and bacterial pneumonia are the main causes of pneumonia in HIV infected patients and must be the main target of decision-making algorithms, based on clinical and radiological data. Mycosis, NTM, strongyloidiasis may in some cases be responsible and justify some bronchial endoscopy center, with BAL. Treatment of S. stercoralis must be associated with adjuvant corticosteroid treatment for PCP.

Conclusion:

National HIV Program should recommend primary prophylactic treatment of PCP by cotrimoxazole, for HIV-infected people.