Nguyễn
Trọng Lân1, Nguyễn Thanh Hùng1, Nguyễn Bạch
Huệ1, Nguyễn Thị Khen1,
Ðỗ
Quang Hà2, Vũ thị Quế Hương2, Vincent Deubel3,
Michel Huerre3
1:
BV Nhi Ðồng 1 - TP. Hồ Chí Minh, 2: Viện Pasteur TP.
Hồ Chí Minh, 3: Viện Pasteur Paris.
Bệnh
sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm trùng cấp tính gây
ra bởi siêu vi Dengue (có bốn týp: DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4).
Các triệu chứng thường gặp trong SXHD là sốt cao, dấu xuất
huyết (da, niêm), gan to, sốc và các dấu hiệu cận lâm sàng
đặc trưng là cô đặc máu, tiểu cầu giảm.
Bệnh
nhi với viêm gan tối cấp có tỉ lệ tử vong cao đã được
báo cáo ở Thái Lan và Malaysia,. Tại Việt Nam, Võ
Ðình Thâm và cs. (1994), Nguyễn Trọng Lân, Nguyễn Thanh Hùng và
cs. (1997) đã báo cáo ảnh hưởng của SXHD lên chức năng gan.
Tổn thương gan trong hầu hết trường hợp SXHD từ nhẹ đến
trung bình, chỉ có BN SXH dạng não có nồng độ transaminase tăng
cao bất thường trong máu như một dấu hiệu của suy gan cấp.
Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu các BN SXHD với suy
gan tối cấp để tìm hiểu vai trò của suy gan trong tiên lượng
của SXHD ở Việt Nam.
Tất
cả các bệnh nhi (BN) dưới 15 tuổi bị sốc SXH
nặng (SXH độ III, IV) có khả năng tử vong nhập viện vào BV
Nhi đồng 1 từ tháng 10/1996 đến tháng 9/1997 đều trong diện
nghiên cứu.
Các
BN được làm xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán
(HI, MAC-ELISA) để xác nhận SXHD, huyết thanh chẩn đoán viêm gan
A, B, C, và phản ứng khuếch đại chuỗi gien (RT-PCR) tại phòng
xét nghiệm Viện Pasteur TP.HCM. Một mẫu máu cũng được gửi
đến BV Val de Grace (Pháp) để làm huyết thanh chẩn đoán loại
trừ viêm gan siêu vi E. Ðo nồng độ transaminase (Aspartate
aminotransferase (AST), Alanine aminotransferase (ALT), bilirubin máu và ion
đồ.
Thực
hiện sinh thiết gan ở những BN tử vong, và mẫu bệnh phẩm
được cố định trong dung dịch formaldehyd để gởi sang Viện
Pasteur Paris nghiên cứu về giải phẫu bệnh và làm xét nghiệm
khuếch đại chuỗi gien tìm RNA của siêu vi Dengue (in situ
PCR).
Báo
cáo này trình bày kết quả 6 trường hợp sinh thiết gan trong
số 31 BN tử vong do sốc SXH độ III - IV.
Các
dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của 6 trường hợp trên
được trình bày trong bảng 1 và bảng 2.
Tất
cả 6 trường hợp đều có thay đổi về tri giác từ li bì (BN
3, 5, 6) đến hôn mê (BN 1, 2, 4), co giật được ghi nhận trên
BN 1, 3, và 6.
Có
4 BN có xuất huyết tiêu hóa (BN 1m 3, 5, 6), 3 BN trong số này cần
truyền máu.
Gan
to được ghi nhận trong cả 6 BN nhưng chỉ có 2 BN có vàng da.
Xét
nghiệm chức năng gan được thực hiện trên 5 BN, kết quả
cho thấy transaminase (AST, ALT) tăng ở 5 trường hợp, 4 BN có
xuất huyết tiêu hóa có nồng độ transaminase trong máu tăng
cao bất thường.
Hạ
Natri máu là 4 / 5 trường hợp có thử ion đồ (Bảng 1).
Xét
nghiệm huyết thanh chẩn đoán viêm gan siêu vi A, B, C, E trên 6
BN thấy có BN 2 và 6 có Ag HBV dương tính nhưng IgM HBc âm tính.
Về
giải phẫu bệnh cho thấy dấu hiệu của viêm gan cấp như hoại
tử gan, thoái hóa mỡ, xuất hiện thể Councilman (Bảng 2).
Tất
cả 6 BN đều tử vong trước khi có thể lấy mẫu huyết thanh
giai đoạn phục hồi, vì vậy chỉ có mẫu huyết thanh giai đoạn
cấp được thử HI, MAC-ELISA. MAC-ELISA dương tính trong 3/6 BN.
Phản
ứng khuếch đại chuỗi gien (RT-PCR) phát hiện RNA của týp huyết
thanh DEN-3 trong mẫu máu của tất cả 6 BN.
Phản
ứng khuếch đại chuỗi gien với mẫu mô gan (in situ PCR) của 3
BN cũng phát hiện được týp huyết thanh DEN-3.
Bảng
1. Các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của 6 BN sốc SXH
tử vong
|
Bệnh
nhi |
BN1 |
BN2 |
BN3 |
BN4 |
BN5 |
BN6 |
|
Giới/Tuổi |
Nam/10th |
Nam/8t |
Nữ/4t |
Nữ/5t |
Nữ/10t |
Nam/6t |
|
Ðộ
nặng SXH |
II
- III |
IV |
III |
IV |
III |
III |
|
Tri
giác |
Hôn
mê |
Hôn
mê |
Li
bì |
Hôn
mê |
Li
bì |
Li
bì |
|
Co
giật |
+ |
-
|
+ |
-
|
-
|
+ |
|
Gan
to |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
|
Vàng
da |
+ |
-
|
-
|
-
|
-
|
+ |
|
Xuất
huyết tiêu hóa |
+ |
-
|
+ |
-
|
+ |
+ |
|
Suy
hô hấp |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
+ |
|
Hct
(% tối đa/tối thiểu) |
42/28 |
43/37 |
34/30 |
33/32 |
44/29 |
46/36 |
|
Tiểu
cầu (/mm3) |
32.000 |
60.000 |
30.000 |
30.000 |
40.000 |
30.000 |
|
AST
(UI) |
18.500 |
K(*) |
1.050 |
1.563 |
99 |
108 |
|
ALT
(UI) |
3.450 |
K |
106 |
23 |
650 |
3.072 |
|
Bilirubin
(mg%) |
4/3,6 |
K |
0,84/0,4 |
0,64/0,35 |
1,47/0,55 |
1,87/0,9 |
|
Ion
đồ máu (mmol/l): |
|
|
|
|
|
|
|
Na+ |
117 |
141 |
|
K |
130 |
124 |
|
K+ |
4,8 |
3,9 |
K |
4,1 |
3,7 |
6,2 |
|
Ca++ |
0,93 |
1,18 |
K |
1,07 |
1,3 |
0,95 |
|
Huyết
thanh chẩn đoán viêm gan siêu vi |
A,B,C(-) |
A,C,E(-) AgHBV(+) IgMHBc(-) |
A,B,C,E(-) |
A,B,C,E(-) |
A,B,C,E(-) |
A,C,E(-) AgHBV(+) IgMHCV(-) |
|
MAC-ELISA |
- |
+ |
- |
+ |
- |
+ |
|
HI
(Huyết thanh cấp) |
- |
40,
40, |
80,
80, 80, 80 |
320,
160, |
20,
20, |
40,
80, |
|
PCR:
- Máu
- Mô gan |
DEN-3 DEN-3 |
DEN-3 K |
DEN-3 K |
DEN-3 K |
DEN-3 DEN-3 |
DEN-3 DEN-3 |
Ghi
chú: (*) K: Không thực hiện
Bảng
2. Giải phẫu bệnh của sinh thiết gan
|
BN
1: Tổn thương viêm gan do vi rút Dengue với hoại tử, thoái
hóa mỡ, hiện diện thể Councilman. Tổn thương rất khó
phân biệt với viêm gan do sốt vàng (Yellow fever). BN
2: Các ổ hoại tử, thoái hóa mỡ đại và vi không bào
với sự xuất hiện thể Councilman, một vài tế bào
lymphocyte và tế bào Kupffer không điển hình. Viêm gan do vi
rút Dengue với hình ảnh mô học cổ điển. BN
3: Tổn thương thoái hóa mỡ vi không bào, một vài ổ
hoại tử tế bào gan không thấy rõ thể Councilman. Hình ảnh
mô học tương ứng với viêm gan do Arbovirút. BN
4: Tổn thương hoại tử giữa thùy (medio-lobular necrosis) với
thể Councilman và những tổn thương thoái hóa mỡ vi không
bào. Hình ảnh mô học tương ứng với viêm gan do vi rút
Dengue. BN
5: Cấu trúc của gan bị phân ly bởi các ổ hoại tử xuất
huyết có chứa các tế bào hoại tử, tế bào eosinophil,
rất ít thoái hóa mỡ. Hình ảnh mô học của viêm gan hoại
tử cấp. BN
6: Những tổn thương không có hệ thống của vi thoái hóa
(micro-steatosis), vẫn không thay đổi các khoảng cửa. Các
ổ hoại tử xuất huyết không có giới hạn rõ với các
tế bào gan có bào tương bắt màu acid. Hình ảnh mô học
của viêm gan hoại tử cấp gây ra do Arbovirút. |
Sự
liên hệ giữa tổn thương gan, dấu hiệu thần kinh với tiên lượng
nặng của BN sốc SXHD đã được nhiều tác giả đề cập từ
lâu. S. Nimmannitya (1987) đã báo cáo 18 BN SXH có vàng da và bệnh
lý não, trong số đó có 10 BN tử vong. Rối loạn chức năng
gan trầm trọng đã được ghi nhận trong tất cả các BN không
tử vong, và tổn thương gan nặng cũng được ghi nhận trong 3
BN tử vong.
Trong
nghiên cứu này, tất cả 6 trường hợp có tổn thương gan
được xác nhận bằng giải phẫu bệnh. Tất cả 6 BN đều có
rối loạn tri giác như li bì (BN 3, 5, 6), hôn mê (BN 1, 2, 4). Co
giật được ghi nhận trong 3 BN (BN 1, 3, 6). Tổn thương gan nặng
có thể gây ra bệnh lý não ở những BN này.
Suy
gan trong SXH góp phần trực tiếp gây xuất huyết nặng và gián
tiếp làm tăng độ nặng của đông máu nội mạch lan tỏa, và
tiên lượng bệnh SXH xấu hơn. Nghiên cứu này cho thấy 4 BN có
biến chứng xuất huyết tiêu hóa nặng (BN 1, 3, 5, 6) có hoại tử
gan nặng biểu hiện bởi sự tăng cao bất thường của men
transaminase trong máu (AST: 18.500; 1.050; 99; và 108 U/l. ALT: 3.450; 106;
650; và 3.072 U/l).
Suy
gan kết hợp với SXH hoặc sốc SXH đã được báo cáo trong
vụ dịch SXH ở Indonesia vào thập niên 1970 và vụ dịch SXH ở
Thái Lan năm 1987. Ðiều này có thể do hồi sức thành công
những BN suy tuần hoàn nặng, hoặc cũng có thể do tính hướng
gan bất thường của một vài chủng vi rút.
Trong nghiên cứu trước đây của chúng tôi (1995), mức trung
bình của AST ở BN sốc SXH độ III, IV lần lượt là 128,3 ?
80,5 và 186,6 ?
56,9 U/l; mức trung bình của ALT ở BN sốc SXH độ III, IV lần lượt
là 41,9 ?
45,2 và 80 ?
29,6 U/l. Trong 6 BN này mức AST tăng cao bất thường ở BN 1, 3,
4 và mức ALT tăng cao bất thường ở BN 1, 5, 6. Sự tăng cao
bất thường transaminase của gan của các BN với thời gian điều
trị kéo dài (BN 1: 96 giờ, BN 3: 68 giờ) cũng như của những
BN với thời gian điều trị ngắn hơn (BN 5: 34 giờ,
BN 6: 24 giờ) khiến chúng tôi nghĩ rằng suy gan cấp trong SXH / sốc
SXH không tương quan với thời gian điều trị, những có thể
do các yếu tố khác như tính hướng gan bất thường của một
số chủng vi rút.
Týp
huyết thanh DEN-3 được phát hiện trong máu của 6 BN và trong mô
gan của 3 BN (BN 1, 5, 6) bằng kỹ thuật khuếch đại chuỗi gian
(PCR). Ðiều này làm nảy sinh câu hỏi có phải chăng týp huyết
thanh DEN-3 có tính hướng gan bất thường và gây suy gan trên
BN SXH ở Việt Nam? Cần phải nghiên cứu thêm mới có thể
trả lời được câu hỏi này.
Các
tác giả LCS Lum, R. George và S. Devi (1993) đã nghiên cứu 20 BN
sốc SXH độ III, IV. Có 3 BN có vàng da và hết vàng da trong vòng
3 - 8 tuần. Sinh thiết gan được thực hiện trên một BN vì vàng
da nặng. Giải phẫu bệnh cho thấy hoại tử gan lan tỏa với các
tế bào gan sống sót, tắc mật nặng, và thâm nhiễm các tế
bào lympho, bạch cầu đa nhân và tương bào. Trong nghiên cứu
có 2 BN vàng da (BN 1 và 6). Ở BN 1, bilirubin toàn phần tăng cao
với chủ yếu là tăng bilirubin trực tiếp, tuy nhiên ở BN 6
chỉ tăng nhẹ bilirubin. Hai BN này có tăng cao AST (18.500; 108 U/l)
và ALT (3.450; 3.072 U/l). Mức tăng cao AST và ALT ở BN sốc SXH có
thể xem như là yếu tố tiên lượng độ nặng của bệnh.
Các
bệnh lý gan có trước như viêm gan cũ và bệnh lý hemoglobin
có thể làm nặng thêm tổn thương gan và góp phần dẫn đến
viêm gan tối cấp. Tất cả 6 BN đều được xét nghiệm huyết
thanh chẩn đoán viêm gan siêu vi A, B, C, và E; chỉ có BN 2 và 6
có Ag HBV dương tính nhưng IgM Hbe âm tính. Những biểu hiện lâm
sàng ở 2 BN này không khác gì những BN khác.
Về
giải phẫu bệnh, N. Bhamarapravati nhận thấy gan có những thay đổi
được xem như đặc trưng cho SXHD mặc dù có những dấu hiệu
tương tự như ở những BN bị sốt xuất huyết do vi
rút khác như sốt vàng (yellow fever), sốt Lassa, sốt Ebola. Hoại
tử huyết khối khu trú của tế bào gan, thể Councilman, sưng phù
tế bào Kupffer với hoại tử hyalin đã được ghi nhận. Trong
một vài trường hợp nặng, tổn thương gan lan tỏa hơn và có
vàng da lâm sàng. Giải phẫu bệnh gan ở 6 BN cho thấy những
dấu hiệu của viêm gan như hoại tử gan, thoái hóa mỡ, thể
Councilman. Rất khó phân biệt những dấu hiệu viêm gan trong
SXHD với những dấu hiệu viêm gan trong sốt vàng. Không thấy
sự khác biệt giữa giải phẫu bệnh của BN vàng da (BN 1 và
6) BN không có vàng da.
Nhiều
yếu tố có thể góp phần vào tiên lượng của BN sốc SXHD,
nhưng tổn thương gan đóng vai trò quan trọng trong tiên lượng
của BN sốc SXHD vì sự phát triển của suy gan trong SXHD không
phụ thuộc vào sự thất thoát huyết tương.
Cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về suy gan trong SXHD, bởi vì đây là một thực thể bệnh có thật ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới.
![]()
Copyright
2003 by Pasteur Institute In HCM, All rights reserved. Contact us : pasteur@pasteur-hcm.org.vn
167 Pasteur Street, District 3, HoChiMinh City, Vietnam. Tel : (84-8) 8200739 -
Fax : (84-8) 8231419.