Hạ bá Khiêm, Trần khánh Tiên,
Ðỗ quang Hà và ctv.
Sốt
Dengue xuất huyết (DXH) được phát hiện ở Việt nam từ năm
1959. Những năm đầu DXH chỉ xuất hiện ở một vài địa phương
với các ổ dịch nhỏ, số người mắc bệnh ít, tỷ lệ tử
vong cao. Nhưng về sau, dịch càng lan rộng, với số người mắc
bệnh ngày càng nhiều. Ðỉnh cao là các năm 1983, 1987 với qui
mô toàn quốc. Tỷ lệ mắc bệnh chung cho cả nước từ 41,02
(1981) đến 462,24/100.000 dân (1987). Do công tác điều trị đạt
đạt được nhiều tiến bộ nên tỷ lệ tử vong giảm từ 2,7
(1983) xuống còn 0,16 (1994) /100.000 dân. Tỷ lệ mắc bệnh giữa
các năm và giữa các miền dao động rất khác nhau , Tỷ lệ
mắc bệnh ở miền Trung và miền Nam thường cao hơn nhiều lần
so với miền Bắc. Kết quả theo dõi những năm có dịch lớn
(1983, 1987, 1991) cho thấy miền Nam có 87,2% số huyện thị xuất hiện
bệnh; tỷ lệ này ở miền Trung là 58,7% miền Bắc là 59,5%; Tây
nguyên chỉ có 29,5%. Kết quả khảo sát những vùng này đều
thấy sự hiện diện của Aedes aegypti với mật độ cao. Càng về
sau, bệnh tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam. Năm
1995-1996, tỷ lệ mắc bệnh ở miền Nam chiếm 66-67% so với
2-3% ở miền Bắc.
DXH
phát triển theo mùa rõ rệt. Tính tần số mắc trung bình hàng
tháng trong 5 năm (1991-1995) cho thấy bệnh xảy ra suốt năm. Tuy
nhiên, dịch thường bùng phát mạnh vào mùa mưa từ tháng 6
đến tháng 10 và đỉnh cao thường vào tháng 8. Giám sát biến
dộng biến động mật độ muỗi Aedes aegypti cho thấy sự
tăng các ca bệnh trong mùa mưa phù hợp với sự gia tăng mật
độ muỗi Aedes aegypti.
Nhóm
tuổi mắc bệnh chủ yếu là trẻ em.. Nói chung tỷ lệ mắc bệnh
ở nhóm trẻ dưới 15 tuổi trong cả nước là 69,8%. Tỷ lệ
này ở miền Nam là頹6,7% , ở miền Trung là 71,6% , ở miền
Bắc là 41,1%.
Theo
dõi sự phân bố cuả các typ e virut Dengue qua các vụ dịch DXH
cho thấy có sự thay dổi vai trò gây bệnh của các type virút.
Những
vụ dịch xảy ra trước năm 1990-1995 chủ yếu là do virut Dengue
I.
Năm
1987 type gây dịch chủ yếu là Dengue II.
Năm
1997 (đến tháng 8/97) type gây dịch chủ yếu là Dengue III.
Bảng
3: Các Flavi virut đã phân lập được trong các vụ dịch DXH
1995, 1996, 1997.
|
|
Virut
đã tìm ra |
Số
(+) / số
bệnh phẩm (%) |
|||
|
Năm |
Type
huyết thanh |
||||
|
|
D1 |
D2 |
D3 |
D4 |
|
|
1995 |
96 |
50 |
16 |
0 |
167
/ 617 (27,06%) |
|
1996 |
20 |
78 |
41 |
0 |
139
/ 1156 (12,02 %) |
|
1997 |
0 |
5 |
9 |
0 |
14
/ 152 (9,21 %) |
Các
nghiên cứu về trung gian truyền bệnh đã xác dịnh Aedes aegypti
là vectơ chủ yếu. Loài muỗi này sống gần người, ở
trong nhà. Kết quả khảo sát tại Hà nội cho biết có
64,8-83% muỗi bắt được là Aedes aegypti. Giám sát sự
biến động cuả Aedes aegypti tại TP Hồ chí Minh từ 1975-1990 cho
thấy có 39,42% muỗi và 96,42% muỗi và 96,42% lăng quăng là
Aedes aegypti khi khảo sát trong và xung quanh nhà dân.
Muỗi
Aedes aegypti hút máu chủ yếu vào buổi sáng sớm
và chiều tối. Sau khi hút máu muỗi trú ẩn trong nhà. Nơi đậu
nghỉ là những mắc dây vắt quần áo, chăn màn (80,54%), tỷ
lệ nhỏ khác đậu ở những bình bông, mái tranh những vật
dụng gia đình khác (hình 9).
Ổ
chứa lăng quăng Aedes aegypti chủ yếu là các vật chứa
nước sạnh như lu vại, hồ do con người tạo ra.
Ðể triển khai nhiều biện pháp phòng chống dịch, kể cả việc phun hoá chất dạng khí dung ULV cho toàn thành phố thị xã; nhưng hiệu qủa thấp, Dịch DXH vẫn xảy ra hàng năm với số lượng hàng chục ngàn người mắc. Do đó vấn đề tiếp tục nghiên cứu về DXH,những yếu tố gây dịch, vấn đề hợp tác nghiên cứu giữa các viện trong toàn quốc, giữa các nước trong khu vực với sự hợp tác và giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế là vô cùng quan trọng. Vấn đề là làm sao thu hút được sự quan tâm, ý thức trách nhiệm của cả xã hội, của các cấp chính quyền, các nghjành hữu quan, và mọi người dân trong cộng đồng đều có ý thức tự giác tham gia cải thiện môi trường, kiểm soát các vật chứa không để cho Aedes aegypti có nơi sinh sản và phát triển.
![]()
Copyright
2003 by Pasteur Institute In HCM, All rights reserved. Contact us : pasteur@pasteur-hcm.org.vn
167 Pasteur Street, District 3, HoChiMinh City, Vietnam. Tel : (84-8) 8200739 -
Fax : (84-8) 8231419.