| 1.1. Phạm vi điều chỉnh:
Quy định này điều chỉnh cho các phòng xét nghiệm phục vụ công tác giảng dạy, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, chẩn đoán, nghiên cứu tác nhân gây bệnh có nguy cơ lây nhiễm cho cán bộ công tác trong phòng xét nghiệm, cộng đồng cũng như môi trường và cộng đồng.
1.2. Đối tượng áp dụng:
Quy định này áp dụng cho tất cả các Viện thuộc hệ Y tế dự phòng, các Trung tâm Y tế dự phòng, các bệnh viện và các đơn vị có phòng xét nghiệm trong ngành y tế .
1.3. Trong quy định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
An toàn sinh học là tổ hợp các biện pháp để đảm bảo an toàn về mặt sinh học gồm: các nguyên tắc thực hành, tay nghề, các thiết bị an toàn trong phòng thí nghiệm để giảm hay loại trừ nguy cơ lây nhiễm cho cán bộ công tác trong phòng xét nghiệm, cộng đồng cũng như môi trường.
Mức độ nguy cơ:
Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các vi sinh vật và nguy cơ lây nhiễm của chúng, Tổ chức Y tế thế giới đ• phân nhóm theo mức độ nguy cơ (nhóm 1, 2, 3 và 4). Việc phân loại các nhóm nguy cơ này nhằm mục đích phục vụ cho công tác trong phòng xét nghiệm. Quyết định này chỉ đề cập đến nhóm nguy cơ 1, 2 và 3, áp dụng cho phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp độ I, II và III. (Chi tiết quy định từng loại vi sinh vật vào các nhóm nguy cơ xem phụ lục 2). Việc phân loại này dựa vào các yếu tố: nguy cơ lây nhiễm cho cá thể, công đồng, có các biện pháp phòng ngừa hoặc điều trị.
Nhóm 1 (Không có hoặc nguy cơ lây nhiễm cá thể và cộng đồng thấp)
Các vi sinh vật ít có khả năng gây bệnh cho người hoặc động vật.
Nhóm 2 (Có nguy cơ lây nhiễm cho cá thể ở mức độ trung bình nhưng nguy cơ cho cộng đồng thấp)
Các vi sinh vật có khả năng gây bệnh cho người hoặc động vật, nhưng không là mối nguy hiểm lớn đối với nhân viên phòng xét nghiệm, cộng đồng, vật nuôi hay môi trường. Những tiếp xúc trong phòng xét nghiệm có thể gây ra các nhiễm trùng nguy hiểm, tuy nhiên có thể phòng và điều trị một cách có hiệu quả và nguy cơ lây truyền là hạn chế.
Nhóm 3 (Nguy cơ lây nhiễm cho cá thể cao, nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng trung bình)
Tác nhân vi sinh vật thường gây bệnh trầm trọng cho người và động vật, nhưng khả năng lây nhiễm từ cá thể này sang cá thể khác hạn chế. Có các biện pháp điều trị và phòng chống có hiệu quả.
Nhóm 4 (Nguy cơ lây nhiễm cao cho cá thể và cộng đồng)
Tác nhân vi sinh gây bệnh trầm trọng cho người hoặc súc vật và dễ lây từ cá thể này sang cá thể khác, trực tiếp hoặc gián tiếp. Không có các biện pháp điều trị và phòng ngừa hữu hiệu. |