|
|
|
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN |
| THỜI KỲ HOÀ BÌNH ( 1975 đến nay) |
| Giai đoạn đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới (1985-2001): |
Tháng 8/1985, Gs. Hạ Bá Khiêm, nguyên Viện trưởng Viện Vắc xin Nha Trang, được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Pasteur TP.HCM. Trong thời gian này, dịch SXH Dengue xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt là các tỉnh phía Nam. Nhiều ổ dịch tả, sốt bại liệt, tiêu chảy xuất hiện, nhiệm vụ đòi hỏi phải khẩn trương, tập trung dập tắt từng ổ dịch, chặn đứng sự lây lan.
Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, lãnh đạo Viện Pasteur TP.HCM hiểu rõ những khó khăn của cơ quan mình. Đặc biệt là khó khăn về trang thiết bị, nguồn cán bộ và nguồn kinh phí. Vì vậy ở giai đọan này, viện đã đẩy mạnh và tranh thủ hợp tác quốc tế theo quan điểm “đa dạng hóa, đa phương hóa”. |
|
| |
GS. Hạ Bá Khiêm
Viện trưởng Viện Pasteur Tp.HCM
(1985 -2001) |
 |
Viện Pasteur TP.HCM từ nhiều năm đã tiếp nhận những nguồn viện trợ lớn có hiệu quả, trực tiếp hay gián tiếp từ các cơ quan của Liên Hiệp Quốc như WHO, UNICEF và các nước bạn bè, của nhiều tổ chức phi chính phủ Pháp, Thụy Sỹ như Hội hữu nghị Pháp – Việt v.v… |
Gs Gheorghiu (Viện Pasteur Paris)
và
PGS.Nguyễn Thị Hội
(phó viện trưởng Viện Pasteur TPHCM) trong lễ cắt băng
khánh thành labo BCG, do Hội Hữu nghị Pháp-Việt tài trợ |
Năm 1986 – 1988, với sự tài trợ của hội hữu nghị Pháp – Việt, labo sản xuất vắc – xin BCG mới đã được xây dựng và trang bị lại tại Viện trên cơ sở labo BCG của Albert Calmette với sự hỗ trợ kỹ thuật của viện Pasteur Paris, tháng 4/1988 labo sản xuất vắc – xin BCG được khánh thành và đi vào hoạt động. |
Trong việc áp dụng các kỹ thuật hiện đại, cần nói tới tính chất quyết định của dự án hợp tác giữa Viện Pasteur Paris và Viện Pasteur TP.HCM vào tháng 12/1990. Chương trình hợp tác kéo dài 5 năm, khai trương vào dịp lễ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Viện. Nội dung của dự án là xây dựng một Trung tâm xét nghiệm sinh học lâm sàng lấy tên là LAM. 91 (Laboratoire d’Analyses Médicales) do chính phủ Pháp và Viện Pasteur Paris tặng giúp, một cơ sở xét nghiệm với những kỹ thuật khá hiện đại. Với tổng kinh phí hơn 16 triệu FF (trong đó vốn đối ứng của Việt nam khoảng 1,2 triệu FF). Với dự án hợp tác này, nhiều thiết bị, máy móc, dụng cụ chuyên môn đã được chuyển từ Pháp sang, nhiều tạp chí, tài liệu khoa học được gửi tới, hàng lọat cán bộ của Viện được đào tạo lại hoặc ở Paris hoặc tại chỗ với sự giúp đỡ của các chuyên gia Pháp.. Dự án LAM. 91 đã mang lại nhiều kết quả thiết thực, nó không những nâng cấp các phòng thí nghiệm để bắt kịp sự tiến bộ trong nghiên cứu khoa học của các Viện trên thế giới và khu vực, mà còn trực tiếp giải quyết được một phần nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam và tăng thêm nguồn thu đáng kể cho viện để nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên và trang trải các họat động của viện trong thời kỳ đổi mới. Chính tại đây, labo HIV/AIDS đã phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam vào tháng 12/1990. |
|
BGĐ Viện Pasteur TP.HCM tặng quà lưu niệm cho GS. DUROSOIR, Tổng đại diện
các Viện Pasteur trên thế giới, người trực tiếp chỉ đạo và xây dựng dự án LAM (30/10/2001) |
Để tạo điều kiện cho y học nước nhà phát triển, tiếp cận với thành tựu y học khu vực và thế giới, tại hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII đã nhấn mạnh: Xây dựng và phát triển trung tâm y tế chuyên sâu (TTYTCS) để nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong thời kỳ đổi mới là một ưu tiên hàng đầu. Ngày 07/3/1997 Thủ tướng chính phủ ký quyết định số 139/TTg phê duyệt chương trình xây dựng TTYTCS thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn I đầu tư cho 5 đơn vị, trong đó có Viện Pasteur TP.HCM. Với kinh phí được duyệt 90 tỉ đồng, trong đó trên 60% là mua sắm trang thiết bị labo, các phòng thí nghiệm của Viện được nâng cấp về mọi mặt. Nhiều cán bộ kỹ thuật được đào tạo ở trong và ngoài nước, đủ khả năng tiếp nhận chuyển giao những kỹ thuật mới, tiên tiến, đảm bảo vận hành tốt các thiết bị và thực hiện chuẩn xác các kỹ thuật, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và hỗ trợ cho hoạt động của các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó: |
| |
|
|
 |
Các chuyên gia của WHO đến làm việc với labo Bại liệt (phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn
của WHO) |
Hệ thống xác định các chỉ số CD4, CD8 |
- Phòng thí nghiệm vi khuẩn đường ruột được nâng cấp và cập nhật các kỹ thuật chuẩn của WHO, góp phần xác định sự không có mặt vi rút Polio hoang dại, làm cơ sở cho việc công bố thanh toán bệnh bại liệt thành công ở Việt Nam và khu vực Tây Thái Bình Dương năm 2000.
- Chuẩn hóa các kỹ thuật xét nghiệm, đưa labo Arbo vi rút đạt chuẩn thức quốc gia và ngang tầm khu vực.
- Hoạt động giám sát và phòng chống các bệnh dịch nguy hiểm được triển khai thường xuyên và dần đi vào nề nếp với các phương pháp ngày càng hoàn thiện. Đặc biệt là các bệnh dịch nằm trong mục tiêu chương trình quốc gia phòng chống các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm như HIV/AIDS, tiêm chủng mở rộng, dịch hạch, SXH Dengue vv... Từ năm1998, ở các tỉnh phía Nam không phát hiện ca mắc hoặc chết do dịch hạch.
|
|
 |
| Tổ chức tiêm chủng cho trẻ tại trạm y tế xã |
Tổ chức chiến dịch tiêm VAT tại Lâm Đồng |
- Năm 2000, Việt nam đã được WHO công nhận thanh toán bại liệt. Chương trình tiêm chủng mở rộng khu vực phía Nam do viện trưởng làm chủ nhiệm với ban thư ký của chương trình là các cán bộ của nhóm TCMR đã đóng vai trò tích cực cho thành công này.
- Chương trình phòng chống sốt xuất huyết dengue trở thành chương trình mục tiêu quốc gia từ năm 1999, góp phần làm giảm tỉ lệ chết và mắc do SXH trên toàn quốc, đặc biệt khu vực phía Nam.
|
Trong giai đoạn 1996 – 2000, do sự đầu tư của Nhà nước cộng với sự nhạy bén, chủ động hợp tác quốc tế, Viện Pasteur TP.HCM đã triển khai 46 đề tài nghiên cứu khoa học tập trung vào những vấn đề như: HIV/AIDS, SXH Dengue, viêm não Nhật Bản, viêm gan, thương hàn, tiêu chảy, bại liệt, sởi, cúm, Leptospira, vi khuẩn đường ruột,Rotavirus vv... các đề tài hợp tác với các tổ chức quốc tế như ANRS (Cơ quan nghiên cứu quốc gia Pháp về HIV/AIDS), ACIP (Tổ chức các hoạt động liên Viện Pasteur trên thế giới), AIRE Développement (Tổ chức đầu tư nghiên cứu tại nước ngoài của Pháp) Trường Đại học Trois Rivires, Québec, Canada; Hợp tác với Nhật Bản (Đại học Tokyo, AAR, NIID), CDC (Hoa Kỳ), NIH (Viện nghiên cứu sức khỏe Hoa Kỳ), US NAMRU 2 (đơn vị nghiên cứu y học hải quân Mỹ) SLCD (Ủy ban hỗ trợ và hợp tác Bỉ. |
 |
| |
Tổ chức chiến dịch
phòng chống SXH tại cộng đồng |
|
|
|