XỬ TRÍ NHIỄM HIV Ở NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY
Nghiện chích ma túy và nhiễm HIV là các nạn dịch đan chéo ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác. Thông tin hiện nay cho thấy người nghiện ma túy có kết quả điều trị không được tối ưu như các đối tượng khác. Tính không ổn định về mặt xã hội và tần suất các rối loạn tâm thần khá cao là những thách thức hết sức khó khăn khi điều trị cho người nghiện chích (NNC). Bài tổng quan này sẽ mô tả một số vấn đề nan giải và tìm ra các phương hướng chiến lược quan trọng nhằm cải thiện cách xử trí ở quần thể bệnh nhân này.
Tầm quan trọng của vấn đề
Bệnh sử nghiện chích ma túy ước tính chiếm 26% số trường hợp AIDS ở Hoa Kỳ và chiếm hơn một nửa số trường hợp AIDS được điều trị ở nhiều cơ sở y tế nội thành. Ví dụ, 55% bệnh nhân ở Phòng khám HIV John Hopkins có yếu tố nguy cơ đầu tiên là sử dụng ma túy. Hơn nữa, một tỉ lệ khá quan trọng của các cá thể bị nhiễm qua quan hệ tình dục đồng thời sử dụng các thuốc gây nghiện. Thực tế, sự phụ thuộc vào các thuốc như vậy làm gia tăng hành vi tình dục có nguy cơ bị lây truyền HIV, chẳng hạn như bán dâm để mua thuốc. Ở các nước đã phát triển, nghiện chích ma túy đã trở thành một điểm chớp nhoáng gây nên nạn dịch HIV có tốc độ phát triển nhanh trong số phụ nữ trẻ ở thành thị.
Điều trị HIV thành công đòi hỏi phải có các thầy thuốc có kinh nghiệm và theo dõi sát bệnh nhân. Đáp ứng tối ưu với liệu pháp kháng vi-rút phối hợp có liên quan mật thiết với khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân với một phác đồ điều trị phức tạp. Thuốc gây nghiện tương quan với một nhóm các yếu tố bất lợi vốn tạo nên các hàng rào ngăn trở quá trình chăm sóc:
- Nhu cầu nghiện ngập khẩn cấp ưu thế so với nhu cầu bảo vệ sức khỏe lâu dài
- Nghèo khó
- Nơi ở không ổn định
- Mạng lưới hỗ trợ xã hội nghèo nàn
- Các bệnh lý phức tạp (suy dinh dưỡng, viêm gan vi-rút mạn tính)
- Tình trạng tâm thần
- Cơ sở y tế thiếu tin cậy
- Thầy thuốc không thoải mái khi điều trị cho người nghiện chích.
Ngay cả khi NNC đăng ký điều trị, thái độ lệch lạc của thầy thuốc có thể tạo nên hàng rào ngăn cản cho điều trị. Hơn 50% các thầy thuốc được điều tra trong Năm 1990 có thái độ không thích điều trị cho NNC, chỉ 28% cảm thấy thoải mái khi điều trị cho các đối tượng này và tỉ lệ còn lại thì không có ý kiến.
Kết quả điều trị ở NNC: trở nên tụt hậu
Mặc dù NNC chiếm tỉ lệ khá cao trong nạn dịch HIV nhưng nhiều chứng cứ cho thấy nhóm này đáp ứng điều trị kém hơn so với các nhóm nguy cơ khác.
Chăm sóc và điều trị
Ở Hoa Kỳ và các nước khác, nhiều báo cáo cho thấy trị liệu kháng vi-rút chưa đúng mức ở nhóm NNC. Nghiên cứu về Sử dụng các Dịch vụ và Chi phí ở Bệnh nhân HIV (HIV Cost and Services Utilization Study = HCSUS) cho thấy nghiện chích ma túy là một yếu tố nguy cơ độc lập đối với việc ít sử dụng 3 đến 6 chỉ số “tiếp cận chăm sóc”, bao gồm cả phối hợp trị liệu kháng vi-rút .
Phạm vi thật sự của vấn đề chưa sử dụng trị liệu đúng mức được ước tính tốt nhất qua các nghiên cứu cohort trên các quần thể nghiện chích ở cộng đồng, trong đó sự tham gia của các đối tượng ít nhiều độc lập với việc chăm sóc y tế. Trong một khảo sát, 404 NNC nhiễm HIV có số CD4 dưới 500/mm3 tham gia vào nghiên cứu ALIVE ở Baltimore, Maryland, giữa 7/1996 và 7/1997, chỉ có 14% tường thuật có sử dụng trị liệu vi-rút phối hợp với thuốc ức chế protease suốt 6 tháng trước đây. Thiếu tính liên tục trong khi chăm sóc bệnh nhân ngoại trú là yếu tố tương quan mạnh nhất với việc không dùng trị liệu kháng vi-rút (Tỉ suất chênh OR: 6.9; Khoảng tin cậy 95%:3.4, 14.0). Strathdee và cộng sự cho thấy chỉ 17% NNC nhiễm HIV gia nhập vào một nghiên cứu cohort ở Vancouver, British Columbia, có nhận điều trị kháng vi-rút phối hợp. Kết quả tương tự ở các nghiên cứu cohort ở Baltimore và Vancouver rất đáng ghi nhận vì trị liệu kháng vi-rút được miễn phí cho NNC nhiễm HIV ở những cơ sở y tế sau này (trước đây thì không có) thông qua một hệ thống xã hội hóa sức khỏe. Vì vậy, trong khi những khó khăn về tài chánh là yếu tố rất quan trọng thì chúng vẫn không đủ để giải thích tại sao NNC không sử dụng trị liệu kháng vi-rút.
Tuân thủ điều trị và kết quả lâm sàng: tầm quan trọng của việc phân biệt giữa người đang nghiện và người nghiện trước đây
Tuân thủ điều trị ngày càng được xem là có vai trò chủ chốt đối với một trị liệu vi-rút phối hợp có hiệu quả. Dùng dụng cụ ghi nhận lọ thuốc điện tử, Paterson và cộng sự cho thấy mối liên hệ về liều lượng-đáp ứng giữa tuân thủ điều trị ức chế protease và sự ức chế vi-rút. Hogg và cộng sự cho thấy không tuân thủ điều trị liên quan độc lập với sự sống còn trong một nghiên cứu cohort lớn trên bệnh nhân nhiễm HIV bằng cách theo dõi toa thuốc của những bệnh nhân này. Đặc biệt, cứ không tuân thủ 10% theo toa thuốc trị liệu thì gia tăng 16% nguy cơ tử vong (p < 0.001). Không tuân thủ trị liệu kháng vi-rút thường tương quan với sử dụng ma túy. Tuân thủ nghiêm ngặt các phác đồ điều trị kháng vi-rút đòi hỏi tính ổn định về lối sống và kinh tế xã hội, và đây là các yếu tố thường thiếu vắng ở người nghiện chích ma túy.
Nhóm nghiên cứu tại John Hopkins hoàn tất một nghiên cứu bao gồm 764 bệnh nhân tham gia vào một cuộc phỏng vấn chuẩn thức ở phòng khám của trường. Cuộc phỏng vấn nhằm vào mối tương quan giữa việc tuân thủ trị liệu kháng vi-rút và các loại ma túy đang dùng. Bệnh nhân được phân loại: (1) Chưa từng sử dụng heroin và cocaine, (2) có sử dụng heroin hoặc cocaine trong quá khứ, (3) đang sử dụng heroin hoặc cocaine. Sử dụng trị liệu kháng vi-rút phối hợp ở bất kỳ thời gian nào trong quá khứ được so sánh ở cả 3 nhóm. Hơn nữa, tự trả lời về việc tuân thủ điều trị và hiện tượng ức chế vi-rút được so sánh ở các phân nhóm đang điều trị thuốc kháng vi-rút vào thời điểm phỏng vấn.
Sử dụng trị liệu kháng vi-rút phối hợp ở người đang nghiện thật sự thấp hơn người không nghiện. Hơn nữa, ở bệnh nhân dùng trị liệu kháng vi-rút vào thời điểm phỏng vấn, cả mức độ tuân thủ điều trị (tự khai báo) và tỉ lệ bệnh nhân có mức ức chế tải lượng vi-rút đều thấp hơn một cách có ý nghĩa ở người đang nghiện so với người không nghiện. Người từng dùng ma túy trong quá khứ và người chưa bao giờ dùng ma túy gần như có tỉ lệ sử dụng trị liệu kháng vi-rút , tuân thủ điều trị và mức ức chế vi-rút như nhau. Kết quả này khuyến khích và gợi lên vai trò tiếp cận đối với điều trị HIV và nghiện ma túy.
Trong thời kỳ trước khi có trị liệu kháng vi-rút có hoạt tính cao (HAART), tiến triển bệnh HIV và tử vong gần như tương tự ở người nghiện và người không nghiện ma túy tuy cả hai nhóm có tiếp cận với chăm sóc như nhau. Lúc bấy giờ, trị liệu kháng vi-rút bao gồm một hay hai thứ thuốc, và dường như có tác động thoáng qua đối với sự tiến triển bệnh. Tuy nhiên, những thách thức đã thay đổi đáng kể trong thời đại của HAART. Điều trị phối hợp bao gồm thuốc đồng vận nucleoside ức chế men sao chép ngược (nucleoside analogue reverse transcriptase inhibitors = NRTIs) cộng với ức chế protease (protease inhibitor) hoặc thuốc ức chế men sao chép ngược không phải là nucleoside (nonnucleoside analogue reverse transcriptase inhibitors = NNRTIs) đã giảm đáng kể sự tiến triển của HIV. Biết rằng việc sử dụng trị liệu kháng vi-rút và tuân thủ điều trị chưa tối ưu thì câu hỏi đặt ra là liệu NNC cũng có tỉ suất mắc bệnh và tử vong do HIV cao hơn các nhóm khác trong thời đại của HAART hay không. Moore và các đồng nghiệp cho thấy những kết quả nghiên cứu gần đây đã gợi ý điều đó trên thực tế có thể xảy ra. Dữ liệu từ 3547 bệnh nhân nhiễm HIV được chăm sóc ở một bệnh viện nội thành trong những năm 1990. So sánh với thời kỳ trước khi có HAART (1990-1995), thì trong thời đại của HAART, NNC có nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong tăng hơn 30% so với người không sử dụng ma túy.
Những vấn đề y học chỉ có ở NNC nhiễm HIV
Một điểm nổi bậc của nhiễm HIV ở NNC là thường xảy ra nhiễm trùng do vi trùng, đặc biệt là viêm phổi, viêm nội tâm mạc và nhiễm trùng huyết. Các nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân nhiễm HIV, nguy cơ viêm phổi do vi trùng (đặc biệt Streptococcus pneumoniae) ở NNC cao hơn người không nghiện ma túy đến 4 lần. Ở nhóm này, Viêm phổi do vi trùng có khuynh hướng tiến triển nhanh hơn (CD4 300-400 tế bào/mm3) và thường xảy ra hơn so với viêm phổi do Pneumocystis carinii. Trái lại, ung thư Kaposi hiếm gặp ở NNC nhưng thường xảy ra ở nam quan hệ tình dục với nam. NNC nhiễm HIV có nguy cơ bị lao khá cao, có thể do tiếp xúc nhiều ở những nơi thành thị nghèo. Kết quả sàng lọc dẫn xuất protein tinh khiết (PPD) hàng năm dương tính khá cao ở nhóm này. Hơn nữa, sàng lọc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) và dị sản cổ tử cung ở phụ nữ nên thực hiện một cách thường qui.
Hơn 95% NNC có đồng nhiễm vi-rút viêm gan C (HCV). Trong thời kỳ trước khi có HAART, HCV không có một tác động nào đáng kể đối với diễn tiến nhiễm HIV. Tuy nhiên, trong thời đại của HAART, một số biểu hiện mới xuất hiện. Người ta ngày càng thấy rõ nhiễm HIV làm gia tăng sự tiến triển bệnh gan gấp nhiều lần. Khi mà tỉ suất mắc các bệnh liên quan AIDS giảm đáng kể do sử dụng HAART rộng rãi, thì HCV lại là một nguyên nhân chủ yếu của tỉ suất mắc bệnh và tử vong. Di Perri và cộng sự gần đây đã hồi cứu 720 bệnh nhân HIV tử vong ở một quận của miền Bắc nước Ý, nơi đây tình trạng sử dụng ma túy là yếu tố nguy cơ lây truyền HIV chủ yếu và đồng nhiễm HCV thường xảy ra. Trong khi trước 1997, bệnh gan giai đoạn cuối chỉ là nguyên nhân tử vong xếp hàng thứ yếu thì nó đã trở thành nguyên nhân tử vong hàng đầu vào 1998-1999. Tương tự, Di Martino và đồng nghiệp đã theo dõi 296 bệnh nhân xơ gan thứ phát còn bù do nhiễm HCV xác định bằng sinh thiết. Tỉ suất tử vong do bệnh gan sau 5 năm là 47% ở bệnh nhân đồng nhiễm HIV và 13% ở bệnh nhân không nhiễm HIV. Nghiên cứu Cohort ở Thụy Sĩ gần đây đã báo cáo đồng nhiễm HCV là một yếu tố nguy cơ của hiện tượng số tế bào CD4 đáp ứng kém đối với HAART và tiến triển bệnh HIV, ngay cả ở những người đã có kiểm soát tải lượng vi-rút khá tốt. Hiện nay, có khá ít kinh nghiệm điều trị HCV ở bệnh nhân nhiễm HIV nhưng các nghiên cứu về vấn đề này vẫn đang tiếp diễn.
MỘT CÁCH TIẾP CẬN ĐIỀU TRỊ CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY BỊ NHIỄM HIV
NNC nhiễm HIV thường gặp phải những vấn đề phức tạp về tâm thần, xã hội và bệnh tật. Thông thường, trị liệu kháng vi-rút sẽ bao gồm nhiều bước theo ưu tiên, cho cả bệnh nhân và thầy thuốc. Tính sẵn sàng của bệnh nhân để bắt đầu điều trị được xem là một tiêu chuẩn hết sức quan trọng trong phiếu thỏa thuận điều trị. Tiếp cận lần đầu tiên nên giải quyết các vấn đề nghiện ma túy, chổ ở ổn định và sự hỗ trợ của xã hội, và công tác điều trị các bệnh tâm thể và thực thể mà bệnh nhân đang mắc phải. Điểm then chốt của việc xử trí thành công những NNC nhiễm HIV là tiếp cận nhóm theo nhiều hình thức kỷ luật. Thông tin trung thực giữa các thành viên trong nhóm rất cần thiết để truyền một tín hiệu thống nhất và tránh chia rẽ các nhân viên.
Bệnh trạng về tâm thể không được chữa trị thường xảy ra ở NNC nhiễm HIV, và có thể là nguyên nhân quan trọng đưa đến tình trạng tái nghiện ngập. Trong số 50 bệnh nhân thu dung điều trị tại Phòng Khám HIV John Hopkins, thì 54% bị rối loạn về tâm thần và 24% có rối loạn tâm thần nguyên phát và các rối loạn do nghiện ma túy. Nghiện ma túy là một tình trạng mạn tính và thường tái phát và thầy thuốc nên quan tâm đến mỗi khi bệnh nhân đến thăm khám. Tương tự với những yêu cầu về tuân thủ điều trị, cách tiếp cận với tình trạng nghiện ma túy nên thẳng thắn nhưng không phán xét. Hỏi một câu hỏi như “Bạn vẫn không dùng thuốc, đúng không?” thì dường như không thẳng thắn. Thay vào đó, bạn có thể bắt đầu với câu thiện cảm và cởi mở hơn như: “Có vẻ như anh đang gặp khó khăn trong nhiều tháng qua. Điều đó có làm anh thèm muốn heroin không?”
Can thiệp bằng nhiều hình thức
Trong y văn về chất gây nghiện, 2 yếu tố thường được đề cập có ảnh hưởng đến kết quả điều trị tối ưu: can thiệp bằng nhiều hình thức và các chiến lược chăm sóc hội nhập. Trước hết, sử dụng ma túy là một vấn đề có nhiều khía cạnh đòi hỏi can thiệp trên nhiều mặt. Một nghiên cứu của McLellan và đồng nghiệp mô tả về quan điểm này. Tổng cộng 92 nam dùng thuốc phiện được chia làm 3 nhóm điều trị: (nhóm 1) chỉ điều trị với methadone (điều trị tối thiểu); (nhóm 2) điều trị methadone và cung cấp các dịch vụ tham vấn; hoặc (nhóm 3) điều trị methadone kèm với các dịch vụ y tế/ dịch vụ chữa trị tâm thần, đào tạo việc làm và điều trị tại nhà (điều trị tăng cường). Bệnh nhân được theo dõi hàng tuần có xét nghiệm nước tiểu. Kết quả cho thấy không phát hiện thuốc phiện ở 74% số bệnh nhân nhóm 3, so với 59% ở nhóm 2 và chỉ 22% ở nhóm 1 (p<0.01).
Chăm sóc hội nhập
Hội nhập chăm sóc người nghiện với điều trị nội là một chiến lược thứ hai để cải thiện kết quả điều trị. Các cơ sở điều trị nghiện ma túy nói chung, và điều trị bằng methadone nói riêng, tự nó phải là những điểm có tính lôi cuốn trong chăm sóc người nhiễm HIV. Nên đơn giản hóa tiếp cận điều trị bằng cách tăng cường sự hợp tác của bệnh nhân ở những lần hẹn và cải thiện kết quả điều trị. Điều này thể hiện rất rõ qua một nghiên cứu của Umbricht-Schneiter và cộng sự, trong đó 51 bệnh nhân (được điều trị bằng methadone và có mắc một hay nhiều bệnh nào đó) được chia thành 2 nhóm một cách ngẫu nhiên: một nhóm được điều trị tại chổ, nhóm còn lại được chuyển qua điều trị ở một bệnh viện đa khoa gần đó. Thông tin của bệnh nhân tham gia nghiên cứu ở nhóm được chuyển đi điều trị ở bệnh viện khác đều được thu thập và gửi về nơi nghiên cứu. Để tránh tình trạng gây nhiễu bởi yếu tố kinh tế, chi phí chăm sóc thuốc men ở nhóm chuyển đi đều được chi trả bởi đề tài nghiên cứu. Kết quả chỉ có 4% trong số bệnh nhân được chuyển đi đến bệnh viện tối thiểu 2 lần, trong khi có đến 76% ở nhóm được điều trị tại chổ (p<0.001). Điều trị nội và điều trị nghiện ma túy tại cùng một điểm đã được minh chứng là một chiến lược hiệu quả trong sàng lọc và điều trị bệnh lao cũng như HIV. Thí dụ, Mannheimer và cộng sự đã báo cáo kinh nghiệm về điều trị HIV tại một trung tâm điều trị duy trì methadone ở Harlem, NewYork. 78% bệnh nhân nhiễm HIV đến thăm khám tại bệnh viện được điều trị thuốc kháng vi-rút phối hợp, và 41% đã đạt được mức RNA HIV-1 trong huyết tương dưới 400 bản mã/ml.
Điều trị có quan sát trực tiếp (DOT)
Điều trị có quan sát trực tiếp đã được chứng tỏ rất thành công trong điều trị bệnh lao. Người ta cũng đã quan tâm áp dụng chiến lược như vậy trong điều trị HIV. Tuy nhiên, điều trị HIV có 2 điểm khác biệt then chốt với điều trị lao là: (1) điều trị kéo dài, và (2) liều thuốc được chia nhiều lần trong ngày. Những yếu tố này thường giới hạn phạm vi DOT HIV đối với một cơ sở y tế chuyên khoa nào đó (ví dụ: nhà tù, các tuyến y tế cơ sở ban đầu và các phòng khám nghiện ma túy).
Fischl và cộng sự gần đây đã trình bày dữ liệu về hiệu lực của DOT ở một cơ sở y tế nhà tù. Nghiên cứu này bao gồm những bệnh nhân nhiễm HIV chưa bao giờ được điều trị thuốc kháng vi-rút và những người này tham gia vào 5 thử nghiệm lâm sàng thuốc phối hợp ở Florida. 50 bệnh nhân đã tham gia vào thử nghiệm lâm sàng thông qua một hệ thống hiệu chỉnh so sánh với 50 bệnh nhân tham gia điều trị tại một đơn vị thử nghiệm lâm sàng ngoại trú. Trong hệ thống nhà tù đó, một điều dưỡng tham gia nghiên cứu trực tiếp cho từng bệnh nhân uống thuốc, trong khi bệnh nhân ngoại trú tự uống thuốc. Bệnh nhân trong tù thường là NNC (32% so với 4%) và có mức CD4 thấp hơn và tải lượng vi-rút cao hơn bệnh nhân ngoại trú. Mặc dù có sự khác biệt này, 100% bệnh nhân điều trị có quan sát trực tiếp (DOT) đã đạt được mức ức chế vi-rút sau 48 tuần so sánh với 81% ở nhóm tự uống thuốc. Vì ngày càng có nhiều thuốc chỉ dùng một lần trong ngày, nên người ta càng quan tâm đến mô hình DOT ở các cơ sở y tế trong cộng đồng. Các cơ sở điều trị nghiện ma túy về mặt chiến lược phải là những điểm có tính thu hút cho các thử nghiệm cách tiếp cận điều trị như vậy.
Tương tác giữa thuốc kháng vi-rút và methadone
Các thuốc kháng vi-rút có rất nhiều tương tác với các thuốc khác. Khi NNC nhiễm HIV được điều trị duy trì methadone, thì việc xem tương tác của thuốc kháng vi-rút với thuốc này là xác đáng.
Tương tác dược lý học có thể gây nên hoặc là thay đổi nồng độ methadone trong máu hoặc là nồng độ của thuốc kháng vi-rút . Các nghiên cứu gợi ý rằng nevirapine, efavienz và ritonavir làm giảm nồng độ methadone do kích hoạt hệ thống cytochrome P450 (chủ yếu là CYP 3A4), và gây nên các biểu hiện ngưng thuốc phiện hết sức quan trọng ở một số bệnh nhân. Dấu hiệu và triệu chứng điển hình của ngưng dùng methadone xảy ra 4 đến 8 giờ sau khi bắt đầu điều trị một thuốc mới và bệnh nhân thường có ớn lạnh, vã mồ hôi, dựng lông, buồn nôn, tiêu chảy, đau quặn bụng, sổ mũi và chảy nước mắt, đau cơ, run rẩy và lo âu. Ngưng thuốc phiện đột ngột thì ít khi đe dọa sự sống, nhưng có thể khơi dậy việc sử dụng heroin trở lại, không tin tưởng vào thầy thuốc và miễn cưỡng điều trị thuốc kháng vi-rút. Trao đổi thông tin giữa thầy thuốc điều trị HIV, bệnh nhân và nhân viên theo dõi điều trị duy trì methadone cần hết sức thận trọng khi bắt đầu trị liệu kháng vi-rút mới.
Thay đổi nồng độ thuốc kháng vi-rút có thể xảy ra khi bệnh nhân đang dùng methadone. Trong khi thuốc ức chế protease và thuốc ức chế men sao chép ngược không phải là nucleoside (NNRTIs) thường ảnh hưởng đến mức methadone nhiều nhất, thì thuốc đồng vận nucleoside ức chế men sao chép ngược (NRTIs) lại thường bị ảnh hưởng bởi methadone nhiều nhất. Hiện nay, có hai hiện tượng tương tác thuốc đáng chú ý được ghi nhận. Hiện tượng thứ nhất là nồng độ zidovudine thường gia tăng khoảng 40% khi dùng chung với methadone. Giảm liều trong thực nghiệm hiện chưa được khuyến cáo, nhưng nên theo dõi sát dấu hiệu ngộ độc do dùng zidovudine. Hiện tượng thứ hai là nồng độ didanosine đã được ghi nhận giảm đến 60% khi dùng chung với methadone. Điều này có thể dẫn đến bệnh nhân chưa đạt đủ nồng độ thuốc, ức chế vi-rút không hoàn toàn và phát triển hiện tượng kháng thuốc. Lưu ý, nghiên cứu này sử dụng thuốc didanosine có tá dược, dùng 2 lần một ngày. Không có dữ liệu về các nghiên cứu sử dụng thuốc bột hay viên nang tan trong ruột. Trước khi có nhiều thông tin khuyến cáo thì không nên sử dụng các biệt dược có didanosine ở người đang dùng methadone nếu như có thể dùng các thuốc khác thay thế
ĐỘI HÌNH TIẾP CẬN VỚI NNC NHIỄM HIV
Vấn đề |
Thành viên |
Chiến lược và mục đích đạt được |
Không tin vào hệ thống y tế |
Thầy thuốc
Đồng đẳng viên |
- Không thành kiến và luôn mỉm cười
- Nên có các mục đích ngắn hạn và lâu dài
- Hình thành một bảng mong đợi về thay đổi hành vi và các điều lệ
- Điều phối những nổ lực của đội
- Nhắm vào những vấn đề y tế cần quan tâm nhanh chóng
- Trị liệu kháng vi-rút khi cần thiết |
Đang nghiện |
Tham vấn viên
Thầy thuốc tâm thần
Điều trị nhóm |
- Kế hoạch hành động (Cắt cơn, cai nghiện, dự phòng tái phát)
- Điều trị methadone, LAAM, etc.
- Dấu danh
- Giảm thiểu các kích phát cơn nghiện |
Nghèo, nhà ở không ổn định, không có bảo hiểm |
Nhân viên xã hội
Nhân viên lo việc làm
Nhân viên tiếp cận cộng đồng |
- Vấn đề ưu tiên; hình thành kế hoạch chăm sóc
- Hướng bệnh nhân đến các quyền lợi xác đáng và các nguồn lực từ cộng đồng
- Theo dõi sát |
Các tình trạng tâm thần |
Thầy thuốc tâm thần
Tham vấn viên |
- Đánh giá và chẩn đoán những tình trạng chưa được điều trị
- Dược trị liệu
- Cách tiếp cận hành vi nhận thức đối với những rối loạn về nhân cách |
Tóm tắt – các ứng dụng thực hành trên lâm sàng
- Vấn đề sử dụng ma túy tiếp tục làm phức tạp việc xử trí một tỉ lệ khá quan trọng những bệnh nhân nhiễm HIV
- Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận NNC nhiễm HIV được chăm sóc chậm trễ và
- chưa sử dụng trị liệu kháng vi-rút đúng mức
- Đang nghiện chích ma túy có liên quan chặt chẽ với không tuân thủ điều trị và có tỉ lệ ức chế vi-rút thấp
- Đồng nhiễm viêm gan C ở người NNC gần như xảy ra khắp toàn cầu. Tuy tỉ lệ sống còn thấp ở thời kỳ chưa có HAART, nhưng bệnh gan tiến triển lại không thành vấn đề. Tuy nhiên, ở thời đại của HAART thì bệnh gan giai đoạn cuối lại nổi lên là nguyên nhân chủ yếu của các tỉ suất mắc bệnh và tử vong ở nhóm NNC. Hiện nay, Ít có kinh nghiệm điều trị HCV ở người đồng nhiễm HIV.
- Tiếp cận nhóm đa chiều và chăm sóc hội nhập tại một điểm tạo điều kiện thuận lợi đối với việc xử trí hiệu quả ở NNC nhiễm HIV.
- Điều trị có quan sát trực tiếp ở các trung tâm cai nghiện (chẳng hạn như các phòng khám điều trị methadone) là một đường lối thu hút cho các nghiên cứu trong tương lai.
- Vấn đề thuốc kháng vi-rút tương tác với methadone thường xảy ra và nên được cân nhắc khi điều trị cho bệnh nhân đang dùng methadone các thuốc kháng vi-rút mới.
VŨ THƯỢNG theo
Management of HIV Infection in Injection-Drug Users, Medscape HIV/AIDS
(Tác giả: Gregory M.Lucas, Assistant Professor of Medicine, Johns Hopkins, Baltimore,
USA)
|