Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
Thời sự y học
 

TRỰC KHUẨN ÂM ĐẠO (BV) CÓ THỂ LÀM TĂNG GẤP ĐÔI
NGUY CƠ NHIỄM HIV:


Theo kết quả của một nghiên cứu tại Nam Phi mới công bố trên chuyên san  The Journal of Infectious Diseases số ra ngày 15 tháng 9 năm 2005 trực khuẩn âm đạo (Bacterial vaginosis: BV), chứng nhiễm trùng hay gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ nhiễm HIV ở các phụ nữ này.
BV là chứng nhiễm trùng xảy ra ở phụ nữ khi có sự mất cân bằng các vi khuẩn thường trú trong âm đạo làm cho môi trường âm đạo chuyển từ acid sang kiềm. Đôi khi BV có các hội chứng như huyết trắng có mùi hôi, đau, ngứa hoặc nóng rát âm đạo nhưng thường thì không có triệu chứng. Dù chưa phân lập được tác nhân chính xác nhưng người ta cho rằng BV là một nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục (NKLQĐTD). BV tác động đến 20-25% các phụ nữ và 50% số phụ nữ đến khám tại các bệnh viện hoa liễu; nó là một NKLQĐTD phổ biến nhất trên thế giới.  BV có thể gây sinh non ở thai phụ và bệnh viêm vùng chậu (pelvic inflammatory disease).
Một số nghiên cứu dịch tễ học tiền cứu (epidemiological and prospective studies) đã phát hiện ra mối liên hệ giữa BV và nhiễm HIV. Hơn nữa, nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy BV làm tăng tính cảm nhiễm của cơ thể đối với HIV, có lẽ do  BV làm tăng sự sản xuất interleukin (IL)-10 và/hoặc tăng tiết tác nhân alpha gây hoại tử khối u (TNF-) và IL-1ß.
Do tỉ lệ hiện nhiễm BV và HIV ở nhiều vùng của khu vực cận sa mạc Sahara cao, việc phát hiện và trị dứt BV có thể góp phần quan trọng trong công tác dự phòng HIV. Dựa trên lập luận này, các nhà khoa học ở viện đại học Cape Town, Nam Phi, đã tiến hành nghiên cứu xem quả thực có mối liên quan giữa BV và nhiễm HIV hay không.
Họ thực hiện một nghiên cứu bệnh chứng (case-control study), lồng ghép trong một thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát ngẫu nhiên (randomised controlled trial) lượng giá việc tầm soát ung thư cổ tử cung ở Khayelitsha, gần Cape Town. Trong số 5110 phụ nữ có HIV âm tính khi bắt đầu tham gia nghiên cứu (giữa tháng 6 năm 2000 và tháng 12 năm 2002), các nhà nghiên cứu chọn ra tất các các phụ nữ có chuyển đổi huyết thanh (HIV dương tính) ở thời điểm tháng 12/2003 (n=86; tần suất mới nhiễm = 2.1/100 người-năm) để thực hiện nghiên cứu này. Số đông phụ nữ có HIV dương tính (64%) được phát hiện ở thời điểm 6 tháng sau khi theo dõi.
324 phụ nữ có cùng độ tuổi với nhóm phụ nữ ở trên được chọn ngẫu nhiên từ số phụ nữ ban đầu để làm nhóm chứng (control).
Số phụ nữ có chuyển đổi huyết thanh (CĐHT) chưa lập gia đình nhiều hơn số không có  (CĐHT) và thường có trên 1 bạn tình trong một tháng trước khi tham gia nghiên cứu. Số có CĐHT cũng khai nhận  có thêm một bạn tình mới trong thời gian 6 tháng sau khi tham gia nghiên cứu.
BV chỉ được lượng giá một lần bằng khám phụ khoa, trong khi đối tượng đến khám để tham gia nghiên cứu (tiêu chuẩn Amsel). Lượng giá vi sinh theo phương pháp mù (Blinded microbiologic assessment) bằng cách nhuộm gram cũng nhằm đánh giá tình trạng BV (thang điểm Nugent).
Theo  tiêu chuẩn Amsel,  chỉ 20% số phụ nữ HIV dương tính có mắc  BV, trong khi tỉ lệ này là 16% trên nhóm chứng. Tuy nhiên, theo thang điểm Nugent thì tới 74% (n=59) số phụ nữ HIV dương tính có BV trong khi tỉ lệ tương ứng ở nhóm chứng là 62% (n=189). 
Phân tích đa biến (sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố về dân số xã hội, các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục khác và hành vi tình dục) cho thấy phụ nữ được chẩn đoán mắc BV có tỉ lệ chuyển từ HIV âm tính sang dương tính cao hơn đáng kể so với phụ nữ không mắc BV (adjusted OR, 2.01; 95% CI, 1.12-3.62).
Các tác giả kết luận "Nếu BV làm tăng tính cảm nhiễm của phụ nữ với HIV thì các can thiệp làm giảm BV có thể giúp giảm thiểu sự lan tràn HIV trên diện rộng. Tỉ lệ hiện nhiễm BV cao trong cộng đồng mà chúng tôi nghiên cứu còn có ý nghĩa là có thể ngăn chặn được một phần ba số trường hợp mới nhiễm HIV nếu tất cả các ca BV được điều trị hiệu quả.”
TPH
Trích dịch từ bài “Common vaginal infection may double hiv acquisition risk”
Của Edwin J.Bernard,  đăng trên mạng AIDSmap.com, ngày 16/9/2005
Tài liệu tham khảo :
1. Myer L et al. Bacterial Vaginosis and susceptibility to HIV infection in South African women: a nested case-control study. JID 192: 000-000, 2005.
2. Schwebke JR. Abnormal vaginal flora as a biological risk factor for acquisition of HIV infection and sexually transmitted diseases. JID 192: 000-000, 2005.

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419