Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
Thời sự y học
 

TIN NGẮN

 

ASEAN bắt đầu chiến dịch tình dục an toàn và chính sách 100% bao cao su để kiềm chế tỉ lệ mới nhiễm HIV

Vào ngày cuối cùng của hội nghị Thượng đỉnh hàng năm tại Brunei, hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) nói rằng hội nghị đang dự định khuyến nghị một chiến dịch tăng cường sử dụng bao cao su trong nỗ lực chống lại bệnh AIDS trong khu vực - báo cáo của hãng thông tấn Reuters. Theo báo cáo, chương trình làm việc của các nước ASEAN về HIV/AIDS lần II (2002-2005), các quốc gia sẽ tập trung vào việc cung cấp bao cao su giá rẻ nhưng chất lượng cao cho công dân của nước mình và xúc tiến một “chính sách 100% bao cao su” tại các nhà thổ, khách sạn và quán massage. Thủ tướng Thái lan Shinawatra nói rằng chính sách 100% bao cao su của đất nước ông tại các điểm tình dục nhằm phòng ngừa cho khách hàng khỏi mua dâm trừ phi họ sử dụng bao cao su và giúp phòng ngừa lan truyền các bệnh lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV. Các quốc gia thành viên của ASEAN như Malaysia, Indonesia và Thái lan nơi cung cấp phần lớn lượng cao su của thế giới - một loại vật liệu tự nhiên trong bao cao su- có lẽ là một thuận lợi đối với những chiến dịch như thế. Tuy nhiên báo cáo ASEAN cũng lưu ý rằng vấn đề nhạy cảm về văn hoá và tôn giáo cũng như tình trạng không chấp nhận sử dụng bao cao su của nam giới có thể là những rào cản trong việc thực hiện chương trình.
Reuters 6.11.2001

Hoạt động phòng ngừa lây truyền HIV cho trẻ sơ sinh: kinh nghiệm và những chọn lựa

Nếu bạn không bắt đầu làm một việc gì đó bạn sẽ không thể cải thiện được tình trạng hiện nay đâu
Tuyên bố về cam kết phòng chống HIV/AIDS được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua vào tháng sáu giao phó cho chúng ta phải đạt được mục tiêu trước mắt là giảm 20% tỉ lệ nhiễm HIV cho trẻ em vào năm 2005 và 50% vào năm 2010. Chúng ta sẽ làm gì để đạt được mục tiêu đó?
Hội nghị AIDS quốc tế khu vực châu Á Thái Bình Dương gồm những lãnh vực về phòng ngừa, chăm sóc và hỗ trợ liên quan đến lây truyền HIV từ mẹ sang con, một lãnh vực thú vị nhưng phức tạp vô cùng.
Bài trình bày trong phiên toàn thể của nhà hoạt động HIV tích cực và mẹ, bác sĩ Susan Paxton, đã mang theo một bản tóm tắt những chiến lược phòng chống hiện nay và viễn cảnh tương lai của những phụ nữ có HIV dương tính, những điểm nổi bật về những chọn lựa khó khăn mà những phụ nữ này phải đối mặt, mô tả nhiều người đã quyết định không có con sau khi nhận được chẩn đoán nhiễm HIV nhưng họ vẫn khao khát có con và mặc cảm tội lỗi khi đứa trẻ bị nhiễm. Bà cũng kề lại những câu chuyện về những phụ nữ khác khi họ bị xâm phạm quyền phụ nữ như xét nghiệm bắt buộc, ép buộc chấm dứt thai kỳ và triệt sản mà không được sự đồng ý của cá nhân.
Trong cố gắng nhằm đạt được sự thống nhất về thuật ngữ, nhóm làm việc quốc tế của Ghent về lây nhiễm HIV từ mẹ sang con khuyến cáo dùng từ “mẹ truyền sang con” thay thế những từ khác đã từng sử dụng như “lây truyền chu sinh”, và “lây truyền dọc”. Tuy nhiên thuật ngữ “cha mẹ lây nhiễm cho con” thích hợp hơn qua nhiều hội nghị bởi vì nó thừa nhận vai trò của đàn ông trong việc lây nhiễm HIV cho trẻ. Bs. Wendy Homes gợi ý rằng cả hai thuật ngữ trên đều cần thiết, khi chúng ta đề nghị những can thiệp đặc biệt như mổ bắt con nên dùng từ “mẹ truyền sang con” nhưng khi nói chuyện trước công chúng, chúng ta nên sử dụng thuật ngữ “cha mẹ lây truyền cho con” thì thích hợp hơn.
Mục tiêu tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hiệp quốc là giảm số trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV, nhưng quan trọng là chúng ta phải nhận ra được mục tiêu thực sự của chúng ta là giảm tử vong cho trẻ em vì bất cứ nguyên nhân gì. Một đưá trẻ có thể thoát khỏi tình trạng nhiễm HIV từ việc bú sữa mẹ nhưng lại chết vì tiêu chảy do việc chọn lựa thức ăn khác thay sữa mẹ thiếu an toàn, do vậy khi trẻ chết sớm đã không thống kê được tỉ lệ trẻ có kết quả dương tính thực sự. Gần đây cũng có những đề nghị rằng nên tăng cường một tiếp cận về “sự sống sót của trẻ em” sẽ hữu ích hơn trong việc nhắm vào tác động của dịch đối bà mẹ và trẻ em. Điều này sẽ dẫn đến một đáp ứng rộng rãi hơn hiện tại, tập trung vào việc tham vấn và xét nghiệm trong suốt thai kỳ, liệu pháp kháng retrovirus và tham vấn cách nuôi trẻ.
Bởi vì phần lớn phụ nữ có thai trong khu vực không biết về tình trạng sức khỏe của họ và chiến lược tập trung vào phụ nữ có thai là quan trọng nhất bao gồm tăng cường việc loại trừ bú sữa mẹ cho tất cả trẻ em, cải thiện tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng bao gồm cả việc quản lý hiệu quả nhiễm trùng lây qua đường tình dục trong quá trình có thai.
Tại Hội nghị có rất nhiều bài báo cáo cảm động từ những câu chuyện về thành công của Thái lan- 2225 trẻ đã thoát khỏi tình trạng nhiễm HIV mỗi năm-đó là kết quả của một chương trình được theo dõi cẩn thận về tham vấn và xét nghiệm tự nguyện và bí mật, tiếp cận liệu pháp kháng retrovirus, và theo dõi chăm sóc cho mẹ và con. Không ngạc nhiên là sau đó các nước khác trong khu vực cũng đang được thuyết phục để “hành động ngay” và Ấn độ, Cam pu chia, Miến điện, Việt Nam, PNG và Trung Quốc đã bắt đầu những nghiên cứu triển khai thí điểm. Nhưng chúng ta cũng cần phải nêu ra những yếu tố đóng góp vào sự thành công của Thái lan để hiểu điều gì có thể xảy ra đối với những nước có những đặc điểm rất khác biệt. Những yếu tố khách quan tác động đến sự thành công ở Thái lan gồm cơ sở hạ tầng về những dịch vụ y tế tốt, cam kết của chính quyền, nhân viên y tế và các nhà nghiên cứu được huấn luyện tốt, sự hợp tác của các công ty quốc tế, mức độ tham gia chăm sóc trước sanh của thai phụ cao và có sự liên kết và quan tâm của cộng đồng.
Có một số gợi ý rằng chúng ta cần xem xét một cách cẩn thận giữa tác hại tiềm ẩn và lợi ích thực sự của những biện pháp can thiệp tức thời bởi vì chúng liên quan đến những lãnh vực đời sống có ý nghĩa xã hội và văn hóa rất lớn – hành vi tình dục, khao khát có con, thai nghén, sinh con, nuôi và chăm sóc con. Đây là những lãnh vực riêng tư của phụ nữ nhưng thường bị chi phối bởi đàn ông. Đặc biệt vì HIV liên quan với sự kỳ thị nên việc chuẩn bị là cần thiết trước khi giới thiệu những biện pháp can thiệp này, cần cân nhắc về khía cạnh văn hoá xã hội và thái độ liên quan, kiến thức và hành vi.
Tuy nhiên bà Mary Pat Kieffer của chương trình thử nghiệm phòng ngừa nhiễm HIV từ mẹ sang con nhấn mạnh rằng “nếu bạn không bắt đầu một việc gì đó thì bạn không thể cải thiện được tình trạng này đâu“.
Có một vai trò quan trọng trong những can thiệp phụ thuộc vào xét nghiệm trong quá trình thai kỳ nhưng cũng có chiến lược khác có thể góp phần làm giảm số trẻ bị nhiễm HIV. Ts. Isabella de Zoysa, giám đốc vụ HIV/AIDS của WHO mô tả “chiến lược ba mũi” đang được khuyến cáo hiện nay của lực lượng đặc nhiệm của Liên Hiệp Quốc: thứ nhất, phòng chống lây nhiễm HIV cho người trẻ và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ; thứ hai, phòng ngừa có thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ nhiễm HIV; và thứ ba, phòng ngừa lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
Một số vấn đề y đức vẫn cần được tranh cãi nhiều hơn như phụ nữ không muốn trả kết quả xét nghiệm của mình để bị mất cơ hội được chăm sóc trước sanh và trong khi sanh, nên tham vấn trước xét nghiệm nhóm hay cá nhân tại những cơ sở khám thai; tham vấn và xét nghiệm trong quá trình lao động; chồng biết về tình trạng nhiễm HIV của vợ khi được xét nghiệm trước sanh, không có cơ hội làm giảm bớt việc biết được tình trạng nhiễm HIV của họ; tiếp cận điều trị kháng retrovirus ở những phụ nữ được phát hiện dương tính; chiến dịch điều trị hàng loạt Nevaradine liều duy nhất cho tất cả phụ nữ có thai và trẻ em ở những nước có tỉ lệ hiện nhiễm HIV cao.

Nhật Bản viện trợ 630.000 USD cho Cộng Hoà Trung Phi để chống lại HIV/AIDS:

Tại Bangui, Ngân hàng Thế Giới đã thông báo về việc Chính Phủ Cộng Hòa Trung Phi (CAR) và tổ chức Phi Chính Phủ Nhật Bản Amis d’Afrique (Những Người Bạn Của Châu Phi ) đã ký một hiệp định thư hôm thứ Tư về việc tài trợ 630.000 USD nhằm củng cố chương trình phòng chống HIV/AIDS trong cộng đồng. Khoản trợ cấp này của tổ chức Amis d’Afrique, nhằm giúp đỡ tài chính cho các hoạt động chống HIV/AIDS tại cộng đồng bằng cách củng cố một số biện pháp can thiệp đang được tiến hành. Khoản trợ cấp gồm 4 thành phần : chăm sóc y tế và điều trị; chăm sóc tại nhà và hỗ trợ gia đình; thông tin, giáo dục, truyền thông và dự phòng ở trường học và các trung tâm thanh niên; nâng cao năng lực lượng giá và giám sát. Ngân hàng Thế giới thông báo rằng khoản viện trợ khuyến khích một cách tiếp cận mới, cách liên kết giữa các tổ chức phi chính phủ và các nhóm cộng đồng khác trong việc xây dựng các biện pháp can thiệp ở Trung Phi. Cơ quan thực hiện viện trợ là Amis d’Afrique được thành lập vào 1993 nhằm giúp đỡ cho cuộc chiến chống lại HIV/AIDS đã tỏ ra có hiệu quả ở cấp địa phương. Ngoài ra, Hội cũng sẽ liên kết với những tổ chức phi chính phủ khác nhằm chuyển giao những chương trình thông tin, giáo dục và truyền thông ở trường học hoặc huấn luyện các thầy thuốc cổ truyền trong việc chăm sóc và giúp đỡ các bệnh nhân HIV/ AIDS nhằm mở rộng phạm vi hoạt động trong cả nước. Ngân hàng thế giới ước tính rằng ở phân nữa các nước thuộc vùng phụ cận hoang mạc Sahara, bệnh AIDS là nguyên nhân trực tiếp làm giảm tỉ lệ tăng trưởng hàng năm từ 0,5% đến 1,2 % tính theo đầu người và đến năm 2010 ở một số quốc gia khó khăn nhất thì GDP tính theo đầu người có thể giảm xuống đến mức 8 %. Hàng năm, chi phí bỏ ra cho việc điều trị và chăm sóc tối thiểu cho một bệnh nhân AIDS ( không dùng thuốc kháng virus) nhiều hơn gấp 2 đến 3 lần GDP tính theo đầu người ở những nước nghèo nhất.
IRIN PlusNews HIV/AIDS Service, 2/11/2001

Thiếu vắng luật bảo vệ quyền lợi cho người nhiễm HIV/ AIDS:

Theo một nghiên cứu mới đây trên tờ tạp chí chuyên đề về Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) số ra ngày 1 tháng 10, hầu như hoàn toàn không hề có một điều luật nào nói về việc bảo vệ quyền lợi cho người nhiễm HIV/AIDS ở khắp các nước đang phát triển. Chỉ có 21 nước, chiếm 16% dân số thế giới, trong tổng số 121 nước được khảo sát là có những điều luật cụ thể để bảo vệ người nhiễm HIV khỏi những phân biệt đối xử của xã hội. Đứng đầu trong nhóm nghiên cứu là Dr Raffaele D’Amelio của Đại học ở Rome, Ông đã cùng Ban Giám Đốc Tổ Chức Y tế Thế Giới thảo luận các văn kiện luật pháp về việc đối xử với người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS và theo hai bảng khảo sát toàn cầu cho rằng việc kiểm tra xét nghiệm HIV ở quân đội góp phần vào sự phân tích của họ. Bản khảo sát chỉ ra rằng ở 60% các nước được khảo sát, bệnh AIDS là một căn bệnh phải khai báo và đối với HIV là không quá 26%, tên của bệnh nhân được giữ bí mật theo luật pháp khoảng 20%; 17% các nước được khảo sát có luật HIV cụ thể về việc cấm những đối xử phân biệt của xã hội chống lại người nhiễm HIV, trong khi có 10% phải thiết lập một hệ thống cho việc bồi thường đến những người bị nhiễm HIV từ những sản phẩm máu đã bị nhiễm bệnh; 11% có những tiêu chuẩn pháp luật trong việc ủng hộ khuyến khích dùng bao cao su và 10% thì bắt phạt theo pháp luật cho những ai cố ý lây nhiễm HIV cho người khác. Bác sĩ Anne- Valerie Kaninda, một cố vấn y khoa cho tổ chức “các thầy thuốc không biên giới” (Medicins Sans Frontieres) ở New York, đã phát biểu rằng những điều phát hiện ra thật quan trọng bởi vì có quá nhiều dấu hiệu bệnh xã hội có liên đới với HIV/AIDS mà con người mắc phải đang cần được bảo vệ. Bà còn nói thêm rằng theo kinh nghiệm của tổ chức của mình thì việc đề nghị điều trị đã khuyến khích mọi người đến với các cuộc xét nghiệm một cách tự nguyện.
 Reuters Health via Kaiser Daily Reproductive Health Report, 31/10/2001

 

 

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419