Đa kháng thuốc là mối ưu tư lớn cho thầy thuốc trong việc xác định điều trị cho bệnh nhân mới nhiễm HIV và xét nghiệm đọt biến kiểu gen liên quan với tính kháng thuốc nên được thực hiện trước khi bắt đầu điều trị, dựa theo kết quả của một nghiên cứu cohort tiền cứu được trình bày tại Hội nghị lần thứ VII về Điều trị thuốc cho bệnh nhân nhiễm HIV tại Glasgow, Scotland. May mắn là những chủng virút đa kháng thuốc lại ít động lực hơn những chủng virút hoang dại.
“ Chúng tôi đã thực hiện một trong những nghiên cứu lớn nhất trên thế giới ở những bệnh nhân mới nhiễm HIV”, Mark Wainberb, bác sỹ, giáo sư về sinh y học, giám đốc trung tâm AIDS tại đại học McGill ở Montreal, Quebec Canada đã nói với Medscape. “Trong nghiên cứu đặc biệt này, chúng tôi đã theo dõi một số cá thể bị nhiễm những chủng virút không chỉ kháng với một mà là với rất nhiều loại thuốc cùng lúc. Có khoảng từ 10 đến 15 loại đột biến khác nhau liên quan đến tình trạng kháng thuốc”
Tiềm năng đối với tình trạng nhiễm trùng từ những loại virút đã phát triển tính kháng thuốc đối với thuốc điều trị HIV có ý nghĩa quan trọng đối với y tế công cộng, Bs Wainberg nói. Đầu tiên, nó không phải là mối quan tâm đối với bất cứ xã hội nào có những chủng virút kháng thuốc lưu hành trong cộng đồng; thứ hai, nó là mối quan tâm đối với những người mới nhiễm HIV mà không đáp ứng đối với thuốc điều trị mà những người khác có thể dùng được.
Bs Wainberg và đồng nghiệp đã theo dõi 31 bệnh nhân nhiễm HIV với chủng virút hoang dại (n=15), với chủng kháng thuốc (n=10) và chủng đa kháng thuốc (n=6). Khi tiến hành xét nghiệm trình tự của vùng men sao chép ngược và protease nhà nghiên cứu đã nhận thấy những đột biến trên sự thay thế trình tự các nucleotide liên quan với tình trạng kháng thuốc.
Đánh giá về sự thay đổi genotyp cho thấy tính bền bỉ của những đột biến kháng thuốc ( ngoại trừ vị trí 184V) theo thời gian, với sự tiến triển của một ít giả chủng qua hai năm theo dõi (>99,6% với sự tương đồng về nucleotid) liên quan đến hình thái lây truyền. “Đột biến dường như ổn định trong một thời gian khá lâu” Bs. Wainberg lưu ý.
Ưu thế của các chủng đa kháng thuốc là vẫn duy trì theo thời gian, ngược lại với các chủng hoang dại được quan sát từ hai chủng nguồn sau khi ngưng điều trị có kiểm soát. Theo Bs. Wainberg, việc thiếu sự trở lại trạng thái nguyên thủy có thể đánh dấu sự vắng mặt của virút hoang dại ở người nhiễm chủng đa kháng thuốc nguyên phát.
Theo các nhà nghiên cứu, bệnh nhân nhiễm chủng virút đa kháng thuốc có nồng độ vi rút trong máu và lượng tế bào CD4 thấp hơn người nhiễm chủng virút hoang dại. Bs. Wainberg chỉ ra rằng, “Virút chứa nhiều đột biến dường như có ít độc lực hơn chủng virút hoang dại mà bệnh nhân đã nhiễm. Phần lớn chủng virút này có lẽ không gây hủy hoại nhiều ở người bị nhiễm chúng như chủng virút hoang dại”.
Bệnh nhân có thể nhạy cảm hơn đối với một nhiễm trùng thứ hai mặc dầu có sự hiện diện của một đáp ứng miễn dịch. Bs. Waiberg nói, “Một bệnh nhân nhiễm một chủng đa kháng thuốc rõ ràng sẽ bị bội nhiễm tiếp theo với một chủng đa kháng thuốc thứ hai từ một virút khác. Nhìn vào hình ảnh đột biến được theo dõi qua thời gian, chúng tôi tìm thấy rằng người này có một kiểu đột biến khác liên quan với tính kháng thuốc”.
Bs. Waiberg nói thêm rằng theo quan điểm Y tế công cộng, ông nghĩ điều này là quan trọng để mọi người biết rằng bội nhiễm có thể xảy ra. Nó cũng quan trọng để nhận biết rằng người ta đã bị nhiễm với chủng đa kháng thuốc tiềm tàng có thể có nguy cơ bởi vì tình trạng không đáp ứng với điều trị - tất cả những bệnh nhân mới nhiễm nên tuyệt đối được xét nghiệm kiểu hình để phát hiện những đột biến kháng thuốc trước khi điều trị được bắt đầu. Nghiên cứu này được tài trợ bởi Viện nghiên cứu Y tế Canada.
Võ Thị Tuyết Nhung
Dịch từ Abstract PL 2.3 trình bày ngày 14-18.11.2004.
Tổng kết bởi Gary D. Vogin, MEDSCAPE