Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
Thời sự y học
 
PHẨU THUẬT KHÔNG DÙNG DAO MỔ CÓ THỂ KÉO GIẢM NGUY CƠ NHIỄM HIV VÀ VIÊM GAN

 

Một báo cáo nghiên cứu đăng trên tập san ngoại khoa Annals of Surgery cho thấy gần 40% các ca mổ ở bệnh viện Johns Hopkins được tiến hành trên các bệnh nhân có xét nghiệm dương tính với ít nhất là một tác nhân gây bệnh truyền qua đường máu. Tác giả chính của báo cáo này, phó giáo sư ngoại khoa và y tế công cộng Martin A. Makary của trường đại học Johns Hopkins nói: “Dù tỉ lệ nhiễm bệnh lây qua đường máu ở bệnh nhân sắp được phẩu thuật rất cao nhưng nhiều khi có thể tiên đoán và ngăn ngừa sự lây lan từ bệnh nhân sang ê kíp mổ trong phòng phẩu thuật bằng cách triệt để tuân thủ nguy tắc dự phòng phổ quát.”
Makary thông báo rằng bệnh viện của ông đã triển khai các chiến lược mới như sử dụng các biện pháp phẩu thuật không dùng dụng cụ bén nhọn mà dùng những công cụ kỹ thuật cao thay thế cho kim và dao mổ trong các tình huống khả thi để để tránh làm lây bệnh từ bệnh nhân sang cho y bác sĩ ngoại khoa. Kỹ thuật không dùng dụng cụ bén nhọn sử dụng bao gồm nội soi ổ bụng (laparoscopy), đốt điện bằng que (electrocautery) tránh tạo ra các vết mổ như trong trường hợp dùng dao, và kẹp da (skip clips) hay dùng hồ dán thay cho khâu da để làm lành vết mổ.
Bài báo cáo nêu rằng tại Hoa Kỳ mỗi năm ước lượng có khoảng 40.000 ca nhiễm HIV mới, và tốc độ nhiễm siêu vi C còn cao hơn thế nữa. Các tác giả của báo cáo này gợi ý là qua việc nghiên cứu tỉ lệ nhiễm 3 loại siêu vi nói trên ở các bệnh nhân tiền phẩu, có thể lượng giá tỉ lệ mới nhiễm của HIV, siêu vi B và siêu vi C trong một cộng đồng chính xác hơn các phương pháp trước đây vì tránh được sai sai số chọn mẫu (selection bias) trong thống kê cổ điển (ước lượng dựa trên các bệnh nhân đến khám ở các cơ sở săn sóc sức khỏe ban đầu (primary care clinic).
Các tác giả nhận thấy những tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường máu có liên quan đến một số loại phẩu thuật cụ thể. Các loại phẩu thuật có nguy cơ lây nhiễm từ bệnh nhân sang thầy thuốc cao nhất như phẩu thuật sinh thiết hạch (lymph-node biopsy), phẩu thuật cắt bỏ khối mô mềm (soft-tissue-mass excision), và phẩu thuật dẫn lưu áp-xe lại thường được giao cho các phẩu thuật viên non tay nhất; và điều này khiến họ bị nhiều nguy cơ nhiễm bệnh từ bệnh nhân hơn các bác sĩ đàn anh.
Makary lý luận rằng, “những kỹ thuật mổ không dùng dụng cụ bén nhọn phối hợp với các biện pháp dự phòng phổ quát cổ điển và việc huấn luyện sớm các phẩu thuật viên tập sự là cách thực tiễn nhất làm giảm lây nhiễm bệnh từ bệnh nhân sang bác sĩ ngoại khoa.” Ông nói: “Chúng tôi ủng hộ việc sử dụng kỹ thuật này bất cứ khi nào có thể – đặc biệt là trong các tình huống có nguy cơ cao – để giúp cho nhân viên y tế trong phòng mổ khỏi phải vô tình mà bị nhiễm bệnh.”
Các tác giả đã nghiên cứu 709 ca phẩu thuật liên tiếp trên người lớn từ tháng 7 năm 2003 đến tháng 6 năm 2004 ở khoa ngoại của bệnh viện Johns Hopkins, bao gồm bệnh nhân nội trú, bệnh nhân từ phòng cấp cứu, và bệnh nhân ngoại trú nhập viện để mổ. Các nghiên cứu viên thu thập các thông tin về kết quả xét nghiệm HIV, siêu vi B và C, loại phẩu thuật, tuổi, giới và tiền sử chích ma túy của bệnh nhân.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 38% các cuộc phẩu thuật có liên quan đến 1 tác nhân lây bệnh qua đường máu, và gần một nửa (47%) số bệnh nhân tiền phẩu nam có xét nghiệm dương tính với ít nhất một tác nhân gây nhiễm trùng. Trong số bệnh nhân có các tác nhân lây bệnh qua đường máu thì 26% nhiễm HIV, 4% nhiễm siêu vi B, 35% nhiễm siêu vi C, và 17% đồng nhiễm siêu vi C và HIV.
Gần 65% bệnh nhân có tiền sử chích ma túy bị nhiễm bệnh lây qua đường máu, mà có tới 71% trong số này được sinh thiết hạch hoặc phẩu thuật dẫn lưu áp-xe mô mềm.
Theo giáo sư Makary thì đa số bệnh nhân trong nghiên cứu này là người nghèo và nhiều người có tiền sử dùng ma túy.
Báo cáo này có tên là “Tỉ lệ hiện nhiễm các tác nhân gây bệnh lây qua đường máu ở trên bệnh nhân tiền phẩu tại bệnh viện ngoại khoa của trường đại học ở một vùng thành thị” được đăng tải trong tập san Annals of Surgery (2005;24 1(5): 803-809).
Trần Phúc Hậu
Trích dịch từ The Gazette (The JohnHopkinsUniversity) Vol.34; No.3, ngày 09/05/2004

 

 

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419