Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
Thời sự y học
 

 

NHIỄM TRÙNG CƠ HỘI VẪN TỒN TẠI,
NGAY CẢ Ở BẮC MỸ VÀ TÂY ÂU

Bác sĩ Henry Masur
Ở Hội thảo về nhiễm retroviruses và nhiễm trùng cơ hội lần thứ 10, có một sự thừa nhận rộng rãi và thẳng thắng rằng các bệnh nhiễm trùng cơ hội (OIs) tiếp tục gây ra bệnh trạng và tử vong ở những bệnh nhân (BN) không có ý thức về tình trạng HIV của họ, những cá thể không có cơ hội để được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ, những bệnh nhân mà tế bào lympho T CD4+ thấp vì họ không được hưởng lợi từ những thuốc kháng retrovirus sẵn có nữa. Tuy nhiên, những bệnh nguyên được chú ý nhất không phải là Pneumocystis carinii, Cryptococcus, và những OIs nổi danh đặc trưng cho hai thập kỷ đầu tiên của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Sự chú ý được tập trung nhiều nhất vào lao bởi tầm quan trọng toàn cầu của nó, và viêm gan B và C, virus herpes người 8 (human herpesvirus 8: HHV-8), và virus viêm gan G (GBV-C).
Trong một buổi nói chuyện toàn thể, Sebastian Lucas ở bệnh viện St. Thomas, London, Vương quốc Anh, đưa ra một cái nhìn khái quát về những khác biệt chung nhất trong bệnh học lâm sàng ở bệnh nhân AIDS. Ông nhấn mạnh rằng nhiều khác biệt hiển nhiên trong tần suất mới mắc của những bệnh OIs chuyên biệt là do sai lầm trong bao cáo, nghĩa là, những phương tiện chẩn đoán không được thấu hiểu ở nhiều nơi và vì vậy một số bệnh nào đó đã hiếm được chẩn đoán dù chúng đang xảy ra. Hơn nữa, nhiều bệnh có thể không xảy ra vì BN không sống lâu đủ để phát triển bệnh miễn dịch tiến triển. Ông cũng nhấn mạnh rằng nhiều bệnh nguyên bị giới hạn về mặt địa lý, như là viêm phổi do sởi, sốt rét, nhiễm leishmania và trypanosomia. Một vài bệnh nguyên có tính giới hạn vùng như vậy gây những biểu hiện lâm sàng ở BN nhiễm HIV không khác gì so với ở BN không nhiễm HIV, trong khi vài bệnh nguyên khác gây bệnh nặng hơn (ví dụ như sốt rét), và một số bệnh nguyên khác nữa gây ra những biểu hiện duy nhất chỉ có ở BN nhiễm HIV như nhiễm trypanosomia (cerebral chagomas) và nhiễm penicillia (bệnh lan tỏa).
Lao
Các nhà nghiên cứu ở các nước đã và đang phát triển đã chú ý đáng kể đến bệnh lao. Đây là một vấn đề hết sức to lớn ở nhiều vùng Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ Latin. Ở Hoa kỳ, đồng nhiễm lao và HIV tiếp tục là một vấn đề, đặc biệt ở người nhập cư  và những người cư trú trong những khu tập thể như nhà tù và chổ trú cho người vô gia cư.
Ngay từ lúc khởi đầu của kỷ nguyên trị liệu kháng retrovirus hoạt tính cao (highly active antiretroviral therapy: HAART), người ta đã nhận ra rằng rifampin khó có thể được sử dụng ở BN đồng nhiễm HIV-lao bởi tác động mạnh của thuốc này trên hệ cytochrome p450: nó làm giảm sự tiếp xúc với thuốc với hầu hết các thuốc ức chế protease và các thuốc ức chế men sao chép ngược không nucleoside (protease inhibitors and nonnucleoside reverse transcriptase inhibitors) một cách quan trọng. Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention: CDC) và những cơ quan khác nhấn mạnh việc sử dụng rifabutin (Hướng dẫn về trị liệu kháng retrovirus của Hiệp Hội Bệnh Truyền Nhiễm Hoa Kỳ và Dịch Vụ Sức Khỏe Công Cộng Hoa Kỳ (United States Public Health Service-Infectious Disease Society of America Guidelines for Antiretroviral Therapy: www.hivatis.org), với mong đợi là tương tác thuốc có thể sẽ ít quan trọng hơn so với rifampin. Y giới đang tìm thêm những dữ kiện lâm sàng để xác nhận rằng chế độ điều trị được khuyến cáo là thành công cho cả nhiễm HIV và lao.
Một nhóm ở Ấn độ đứng đầu là Patel xem xét hồi cứu lại những hồ sơ của họ để so sánh đáp ứng tế bào T CD4+ với efavirenz và 2 thuốc tương tự nucleoside (nucleoside analogues) ở một nhóm BN nhiễm HIV bị lao (n = 99) và được khởi đầu trị liệu kháng lao, và một nhóm BN không lao (n = 98) và được điều trị nhiễm HIV đơn thuần. Các BN bị lao lúc khởi đầu trị liệu có số tế bào lympho T CD4+ thấp hơn (104 cells/microliter [mcL]) so với những BN không bị lao (130 tế bào/mcL, p < 0,0001), nhưng ở thời điểm 9 tháng các BN bị lao có số tế bào T CD4+ cao hơn (306 tế bào/mcL so với 270 tế bào/mcL, p < 0,0001). Không có khác biệt lớn về độc tính liên quan đến thuốc. Đáng chú ý là 8 BN (8%) ở nhóm lao bệnh xấu đi một cách nghịch thường, có lẽ do hiện tượng khôi phục lại hệ miễn dịch  vốn đã được thừa nhận rõ. Nghiên cứu này không đề cập đến đáp ứng về tải siêu vi và cũng không đề cập đến việc liệu những BN bị lao có thể tốt hơn hay không với chế độ trị liệu khác, ví dụ như một chế độ có chứa rifabutin.
Bill Burman và cộng sự, CDC, cung cấp một bằng chứng khác về hiệu lực của trị liệu kháng retrovirus trên BN đang điều trị lao. Nhóm của ông đưa ra câu hỏi: liệu HAART có cải thiện tiên lượng các BN điều trị bằng công thức kháng lao có chứa rifabutin so với những BN ở kỷ nguyên trước đó, trước khi có HAART hay không? Tác giả so sánh kết cục của 169 BN thu nhận vào Nghiên cứu phối hợp các Thử nghiệm Lâm sàng Lao 23 (TB Trials Consortium (TBTC) Study 23), được dùng bất kỳ thuốc kháng retrovirus nào ngoại trừ delavirdine, với kết cục của những BN trong một nghiên cứu đoàn hệ trước khi có HAART, CPCRA 019/ACTG 222. Vào thời điểm 12 tháng, TBTC có tử suất thấp hơn (5%) so với  CPCRA/ACTG (15%). Vì thế, dường như là công thức kháng lao dựa vào rifabutin cũng có thể được sử dụng an toàn và hiệu quả với HAART. Điều thất vọng là nghiên cứu này đã không so sánh số tế bào T CD4+ hay tải siêu vi giữa hai nhóm.
Như vậy, khi công thức chứa rifampin và công thức chứa rifabutin được sử dụng để điều trị  lao ở BN nhiễm HIV, chế độ điều trị kháng retrovirus có thể hoàn toàn hiệu quả mặc dầu cần nhiều dữ liệu hơn để xác định chế độ điều trị kháng retrovirus nào và chế độ kháng lao nào cho hiệu quả tốt nhất và an toàn nhất.
Nettles và cộng sự so sánh các công thức điều trị  dựa vào rifampin và rifabutin cho tất cả các BN (nhiễm và không nhiễm HIV) ở Phòng khám Lao Tp. Baltimore (Maryland), 1993-2001. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu này bao gồm 431 BN: 25% nhiễm HIV, 42% HIV âm tính, và con số 33% đáng ngạc nhiên không biết tình trạng nhiễm HIV. BN được điều trị với một trị liệu quan sát trực tiếp bao gồm 15 viên nén/nang mỗi ngày theo sau bởi một chế độ trị liệu chuẩn hai lần một tuần, cho dù CDC không khuyến cáo sử dụng chế độ dùng rifampin ngắt quãng do những quan ngại về đề kháng. Không có một phác đồ chuẩn về  công thức HAART nào được cho dùng,  hoặc khi nào khởi đầu dùng, hay rifamycin nào được CDC chấp thuận cho sử dụng.
Lao tái phát (nghĩa là thất bại trị liệu) được ghi nhận ở 9/109 BN nhiễm HIV (8,3%) so với 7/322 BN khác (2,2%; P = 0,007). Tái phát đi kèm với số tế bào CD4 thấp hơn ở nhóm BN nhiễm HIV (51 so với 137 tế bào/mcL; P = 0,02). Trong những BN nhiễm HIV, tái phát xảy ra ở 3/81 BN được điều trị rifampin so với 0/27 BN được điều trị rifabutin (P = 0,57). Vì thế, mặc dù nghiên cứu này là hồi cứu và không có đối chứng và dù nghiên cứu sử dụng chế độ rifamycin ngắt quãng mà nay không còn được khuyến cáo nữa (có nhiều tái phát hơn với rifabutin ngắt quãng so với rifabutin mỗi ngày), báo cáo này cung cấp một số dữ liệu hữu ích, hỗ trợ cho quan niệm rifabutin hiệu quả không kém hơn rifampin.

Cytomegalovirus
Có vài nghiên cứu về đáp ứng miễn dịch với nhiễm bệnh cytomegalovirus (CMV), cho thấy mối tương quan giữa đáp ứng tế bào lympho T CD4+ và CD8+ với nhiễm HIV.[5,6] Kết quả ban đầu cho thấy có thể thực hiện được việc đo lường các yếu tố miễn dịch có tương quan nhằm dự báo sự tái hoạt của bệnh. Những nghiên cứu này hết sức lý thú nhưng đến nay chưa cung cấp được những thử nghiệm mang tính khả thi ở hầu hết các phòng xét nghiệm, hay chưa đủ độ nhạy và đặc hiệu để dự báo các kết quả khi sử dụng trên lâm sàng.
Đo tải lượng CMV ngày càng trở nên hiện hành ở các phòng xét nghiệm thương mại, và có thể hữu ích ở nhiều cơ sở y tế khác nhau để dự báo các biến cố lâm sàng và theo dõi hiệu lực của điều trị hay hóa dự phòng. Charles van der Horst và cộng sự ở Đại học North Carolina mở rộng nghiên cứu đã được công bố trước đó bởi các tác giả khác. Nhóm của ông này báo cáo một đoàn hệ 200 BN nhiễm HIV và số tế bào lympho T CD4+ < 200 tế bào/mcL. Họ thực hiện 4 thử nghiệm CMV khác nhau trên các mẫu máu liên tiếp (kháng nguyên pp65 trong máu: pp65 antigenemia, kháng nguyên pp67 trong máu: NucliSens pp67 antigenemia, thử nghiệm phản ứng chuỗi khuyếch đại DNA của CMV của hãng Roche: Roche CMV DNA PCR, và máu toàn phần CMV DNA hybrid capture [Digene]). Họ quan sát thấy không có tử vong do bệnh CMV nhưng điều thú vị là tải siêu vi HIV và tải lượng CMV đều là hai yếu tố tiên lượng độc lập của tử vong (số tế bào T CD4+ không phải là yếu tố tiên lượng trong nhóm này có lẽ bởi tất cả BN đều có số tế bào T thấp). Vì thế, lượng CMV trong máu là một yếu tố tiên lượng độc lập của tử vong: liệu việc điều trị CMV trước một bước có thể cải thiện kết cục hay liệu tải lượng siêu vi trong máu này đơn thuần là một dấu ấn biểu hiện suy giảm chức năng miễn dịch còn phải được xác định.
Trong một bài tóm tắt liên quan tới CMV, Douglas Jabs và cộng sự ở Johns Hopkins báo cáo 176 BN tiền cứu có viêm võng mạc do CMV trong một Nghiên cứu Đề kháng Siêu vi và Viêm võng mạc do CMV. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hiện tượng siêu vi lưu hành trong máu xảy ra, các phân lập siêu vi thường kháng với foscarnet (ở 3,6 và 9 tháng, đề kháng xảy ra lần lượt ở 13%, 24%, và 37% ở các chủng phân lập được). Điều này nhắc các bác sĩ lâm sàng là trị foscarnet lâu dài không phải là có hiệu quả không đổi và vô hạn: tỉ suất và thời gian phát triển kháng thuốc cũng tương tự như ganciclovir.

Tăng khối lượng nạc của BN có OIs
Khi BN bị OIs, họ thường bị stress và sụt cân nhiều bao gồm cả mất khối lượng cơ khá nghiêm trọng. Morris Schambelan và cộng sự thu nhận 74 BN để xác định liệu một đợt 4 tuần dùng nội tiết tố tăng trưởng hay chất ức chế yếu tố hoại tử khối u (tumor necrosis factor inhibitor : thalidomide) có làm tăng khối lượng nạc cơ thể hoặc việc thực thi chức năng không. Điều thất vọng là nghiên cứu này không cho thấy một lợi ích kéo dài ở cả hai kiểu can thiệp. Nội tiết tố tăng trưởng có làm tích luỹ khối lượng nạc cơ thể ở giai đoạn sớm tốt hơn nhưng vào khoảng 8 tuần thì hầu như không có khác biệt so với giả dược.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục
Những biểu hiện mới đáng được các bác sĩ lâm sàng lưu tâm. Một báo cáo thú vị đã bình luận về sự xuất hiện của giang mai mắt. Gail Phadungchai và cộng sự ở Phòng khám bệnh nhiễm trùng bệnh viện đại học Goergetown (Georgetown University Hospital Infectious Diseases Clinic) lưu ý rằng trong suốt năm qua, 40/350 (11,4%) BN được chẩn đoán giang mai: 6 bị giang mai thần kinh và 3 bị giang mai mắt. BN bị giang mai mắt biểu hiện mờ mắt và viêm thể thuỷ tinh. Tất cả BN này đều có tăng tế bào trong dịch não tuỷ nhưng chỉ 2/3 có VDRL dịch não tuỷ dương tính, điều này nhắc nhở các bác sĩ lâm sàng rằng VDRL không phải là luôn nhạy cảm. Các BN này có số tế bào T CD4+ cao (388-594 tế bào/mcL) và không BN nào khởi đầu trị liệu kháng retrovirus mới đây. Liệu giang mai mắt có đại diện cho một biểu hiện được nhiều người biết đến (nhưng không thường gặp) của một bệnh lây truyền qua đường tình dục đang gia tăng hay đây là một biến chứng mới như là một dạng của hội chứng khôi phục lại miễn dịch muộn còn phải được xem xét.

Dự phòng OIs: Hoá dự phòng và chủng ngừa
Ở Hội thảo về nhiễm retroviruses và nhiễm trùng cơ hội lần thứ 9 năm 2002, những chỉ định khởi đầu và ngưng dự phòng tiên và thứ phát các nhiễm trùng cơ hội đã được thảo luận đáng kể. Trong hội thảo này, những vấn đề này đã được giải quyết với sự công bố của những nghiên cứu lớn cũng như sự công bố của Hướng dẫn đã duyệt lại về dự phòng nhiễm trùng cơ hội ở người nhiễm HIV của Sở y tế cộng đồng Hoa kỳ và Hội bệnh lý nhiễm trùng Hoa kỳ (www.hivatis.org).
Một vấn đề đã không được đề cập một cách rộng rãi là tác động của việc ngưng trị liệu dự phòng trimethoprim-sulfamethoxazole ở các đích “thứ phát” như nhiễm trùng hô hấp. Trong một nghiên cứu đoàn hệ ở Thụy Sĩ, Furrer và cộng sự đã quan sát tỷ suất mới mắc của viêm phổi ở BN ngưng dự phòng trimethoprim-sulfamethoxazole theo sau đáp ứng tế bào T CD4+ với trị liệu kháng retrovirus. Họ nhận thấy ngưng điều trị dự phòng này không những an toàn nếu tính đến suất độ viêm phổi do Pneumocystis carinii rất thấp, mà tỷ suất mới mắc của viêm phổi do vi khuẩn cũng rất thấp một khi số tế bào lympho T CD4+ vẫn giữ trên > 200 tế bào/mcL.
Dự phòng bệnh hô hấp ở BN được điều trị HAART, và cho những BN không tiếp cận được với trị liệu kháng retrovirus có thể thực hiện qua chủng ngừa và hoá dự phòng. Việc sử dụng vắc-xin phế cầu hóa trị 23 ở tất cả BN nhiễm HIV, với sự tái chủng ngừa nếu số tế bào lympho T CD4+ tăng đến > 200 tế bào/mcL sau lần chủng ngừa đầu tiên đã được coi như một săn sóc chuẩn. Tuy nhiên, nhiều dữ liệu hơn liên quan tới khả năng và tính lâu bền của đáp ứng kháng thể cũng như là ích lợi lâm sàng về mặt giảm bệnh trạng và tử suất sẽ hữu ích. Một nghiên cứu ở Uganda do French và cộng sự tiến hành vào năm 2000 gây  xôn xao khi cho thấy, vì lý do nào đó khó giải thích, BN nhiễm HIV được chủng ngừa với vắc-xin phế cầu lại có tử suất cao hơn.
Về mặt đo lường đáp ứng kháng thể với vắc xin này, một nhóm ở Barcelona tái khảo sát đáp ứng miễn dịch với vắc xin phế cầu hóa trị 23 ở BN nhiễm HIV đã được điều trị với HAART. Họ nghiên cứu 3 nhóm BN: không nhiễm HIV, nhiễm HIV chưa bao giờ có số tế bào lympho T CD4+ < 200 tế bào/mcL, và nhiễm HIV từng có mức lympho T CD4+ < 200 tế bào/mcL nhưng đã đáp ứng với HAART và nay đã hơn 200 tế bào/mcL. Họ không tìm thấy có sự khác biệt về đáp ứng huyết thanh giữa các nhóm này.
Trong một bài nói, Hung và cộng sự ở Đài loan đã đánh giá tỷ suất mới mắc của viêm phổi mắc phải trong cộng đồng và nhiễm trùng cơ hội do AIDS trên 305 BN đã được chủng ngừa và 203 BN không được chủng ngừa. Nghiên cứu này là nghiên cứu quan sát, không phân bố ngẫu nhiên và không giống nghiên cứu ở Châu Phi: hầu như tất cả BN đều đang điều trị HAART. Tỷ số chênh hiệu chỉnh (adjusted odds ratio) cho phát triển bệnh phổi là 0,081 (KTC 95%: 0,009-0,724; p = 0,02) cho vắc-xin so với không vắc-xin. Tỷ số chênh về tử vong giữa người được hỗ trợ bằng vắc-xin so với người không được phòng ngừa là 0,144 (KTC 95%: 0,041-0,404; p = 0,002). Điều này có thể do BN trong nghiên cứu dùng vắc-xin lại khoẻ hơn (ví dụ họ nhận được sự săn sóc tốt hơn). Trong khi nghiên cứu này có cỡ mẫu quá nhỏ để tạo ý nghĩa thống kê cho nhiều phép so sánh, trong khi nó khác với nghiên cứu ở Gambia là BN được điều trị HAART, thì nó cho thấy dữ liệu hỗ trợ tính an toàn và hiệu lực của vắc xin, một biện pháp dự phòng khá hiện hành và không mắc tiền.

Siêu vi herpes và siêu vi viêm gan
Ung thư Sarcoma Kaposi đang giảm về tỷ suất mới mắc ở Bắc Mỹ và Tây Au trong vòng 5 năm qua nhưng vẫn có những mối quan tâm đáng kể về sinh học và dịch tễ của siêu vi herpes người 8 (human herpesvirus-8: HHV-8)vốn là nguyên nhân của bệnh này.
Robert Biggar trình bày bảng (poster) về sự truyền bệnh của HHV-8 ở nông thôn Tanzania. Ong giải thích rằng hầu hết trẻ em bị nhiễm trong vài năm đầu của cuộc sống ở Tanzania, thêm vào đó là sự truyền bệnh qua những cá thể có hoạt động tình dục. Lây nhiễm dường như xảy ra từ mẹ sang con, có thể qua nước bọt và từ chồng sang vợ, có thể là do quan hệ tình dục.
Siêu vi GB nhóm C (GBV-C, trước đó được gọi là siêu vi viêm gan G, nhưng được đặt tên lại vì siêu vi này không gây viêm gan) cũng nhận được sự chú ý đáng kể. Một nghiên cứu công bố năm ngoái trên tờ New England Journal of Medicine gợi ý rằng những BN có GBV-C thì có khuynh hướng được bảo vệ khỏi tiến triển của bệnh HIV. Các phương thức mà siêu vi này ảnh hưởng đến một số thụ thể tế bào nào đó cung cấp một nền tảng sinh học hợp lý đối với tác động trên lâm sàng.
Phát hiện của nghiên cứu trên tờ New England Journal of Medicine này thì trái ngược với một nghiên cứu của Thụy Điển trên 230 BN nhiễm HIV được theo dõi trong một khoảng thời gian trung bình 4,33 năm. Nghiên cứu này nhận thấy rằng GBV-C (siêu vi hay kháng thể lưu hành trong máu) lúc chẩn đoán không dự báo bệnh sử tự nhiên của nhiễm HIV. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu lớn hơn ở ACTG, Williams và cộng sự đã báo cáo tình trạng lưu hành siêu vi GBV-C trong máu khi được đánh giá 5-6 năm sau khi huyết thanh HIV chuyển đổi là một yếu tố tiên lượng mạnh của sống còn, và tình trạng không còn lưu hành siêu vi trong máu thì dự báo tử vong. Tầm quan trọng của GBV-C vì vậy vẫn chưa được giải quyết: liệu lưu hành siêu vi trong máu thì thật sự là bảo vệ (và liệu một chủng ngừa trị liệu sẽ có thể có ích)  hay liệu lưu hành siêu vi trong máu là một dấu ấn cho vài quá trình miễn dịch có ích nào khác vẫn còn phải xác định.
Viêm gan B và C là chủ đề của rất nhiều bài trình bày. Trị liệu tenofovir cho viêm gan B đã đem lại những kết quả hứa hẹn ở những BN đã điều trị bằng lamivudine hay chưa bao giờ điều trị. Tenofovir dường như dung nạp tốt và hiệu quả mặc dù độc tính liên quan đến tenofovir ở những BN đã dùng adefovir là chủ đề của một vài mối lưu tâm. Với viêm gan C, các kết quả nghiên cứu được trình bày nhiều hơn. Một nghiên cứu chỉ ra rằng ribavirin cho 3 lần một tuần thì không hiệu quả như là cho alpha interferon mỗi ngày mặc dù kết quả này thì ít được quan tâm hiện nay do pegylated alpha interferon đang được sử dụng rộng rãi. Ích lợi lâu dài của chế độ điều trị này và tỷ số chi phí-lợi ích: lợi ích đòi hỏi nghiên cứu thêm.
Vì vậy, tại Hội thảo về nhiễm retroviruses và nhiễm trùng cơ hội lần thứ 10, cho thấy cần phải nổ lực hơn để phát triển những tiếp cận mới để đặc trưng hoá và xử trí các nhiễm trùng gây bởi trạng thái quá thừa các bệnh nguyên đang trỗi dậy vốn vẫn tiếp tục gây bệnh trạng và tử vong ở BN nhiễm HIV ở Bắc Mỹ, Tây Au và thế giới đang phát triển.

LÊ TỰ PHƯƠNG THÚY – LÊ THƯỢNG VŨ  Theo  
Opportunistic Infections; They still exist, Even in North America and Western Europe, 10th Conference on Retroviruses and Opportunistic Infections,  Copyright © 2003 Medscape.


 

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419