- Hoàn cảnh nghiên cứu về vắc-xin phòng ngừa HIV:
Việc chỉnh lý một vắc-xin dự phòng đối với HIV, hơn bao giờ hết được xem như vấn đề tuyệt đối ưu tiên. Giữa những năm 80, các nhà khoa học Mỹ và Pháp đã hướng về cảm ứng một đáp ứng miễn dịch qua trung gian dịch thể bằng cách dùng các protein của HIV-1 được bộc lộ nhất cho hệ thống miễn dịch. Các chất sinh miễn dịch đầu tiên nhằm cho sản xuất kháng thể có khả năng trung hoà sự nhiễm trùng, được cấu tạo từ các protein vỏ tái tổ hợp. Các protein được thu nhận bởi kỹ thuật di truyền là nhằm tránh mọi sự lây nhiễm do HIV trong khi tiêm chủng.Mặc dù có những kết quả khích lệ ở loài tinh tinh, các nhà khoa học nhanh chóng nhận ra rằng dạng vắc-xin này cảm ứng các kháng thể không có tác dụng đối với các chủng ”hoang dại” là thủ phạm gây nhiễm trên người. Thế rồi các nhà nghiên cứu đi vào xu hướng gây cảm ứng một đáp ứng miễn dịch tế bào. Kiểu miễn dịch này tác đông các lymphô bào T gây độc tế bào (CTL).Lợi ích của những đáp ứng qua trung gian tế bào đã được thông tin rộng rãi trên các mô hình thực nghiệm và với việc nghiên cứu nhiễm trùng sơ phát do HIV. Sự đáp ứng CTL được điều khiển để chống lại các protein cấu trúc (Env, Gag và Pol) và các protein điều hoà (Tat, Rev và Nef) của HIV.
Năm 2002, phần đông các nhà nghiên cứu cho rằng có thể thu nhận được sự bảo vệ cục bộ do tiêm chủng bởi việc cảm ứng một đáp ứng tế bào mạnh mẽ và đa biểu vị (multiépitopique). Còn về đáp ứng dịch thể, nếu nó thụ hưởng những tiến bộ (nhất là những tiến bộ về cấu trúc) được thực hiện trong sự hiểu biết các cơ chế xâm nhập tế bào của HIV, thì còn có triển vọng xa hơn nữa. Do đó chiến lược được phát triển bởi Cơ quan nghiên cứu quốc gia về AIDS (ANRS) hay các thử nghiệm vắc-xin tiêm chủngcũng như các chiến lược khác, bằng các thử nghiệm lâm sàng trên thế giới, đều hướng về sự cảm ứng một đáp ứng tế bào.
Một vắc-xin kiểu này thuộc loại vắc-xin thế hệ thứ nhất, hiệu quả cục bộ, không ngăn chặn được nhiễm trùng nhưng làm giảm hàm lượng virút ở thời kỳ lui bệnh của nhiễm trùng sơ phát, và đảm bảo một thời kỳ tiến triển lâu dài không triệu chứng của bệnh. Ở mức độ thế giới, nó có thể cho phép chưa sử dụng đến phương sách kháng retrovirút trong nhiều năm đối với nhiều người bị mắc. Hơn nữa, bằng cách làm giảm hàm lượng virút trung bình trong quần thể, sẽ có tác dụng trên việc lan truyền HIV và như vậy sẽ tác động đến sức khỏe mọi người.
Những chiến lược được phát triển hiện có nhiều kiểu:
- Các vắc-xin virút tái tổ hợp là những vắc-xin được lắp ghép các virút vô hại cho con người và các gen của HIV.Vấn đề chính là Alvac của Aventis - Pasteur đã được chỉnh lý kỹ thuật với sự ủng hộ của ANRS(viruscanarypox) , các adenovirut đã được phát triển đặc biệt trong chiến lược của các labo của Merck và các virút ankara được cải tiến (MVA)
- Các vắc-xin ADN là những loại vắc-xin sử dụng các gen của HIV. Mảnh ADN “trần” này được tiêm trực tiếp vào cơ thể.
- Các protein liên quan đến cấu trúc và điều hoà của HIV và có khả năng cảm ứng các đáp ứng tế bào và dịch thể. Chúng được đặc biệt phát triển trong chiến lược đã thích nghi bởi các labô của GlaxoSmith Kline
- Các peptides và trong số những peptides đó, các lipopeptides, đại diện sự tiếp cận chiến lược của ANRS.
Hơn 80 thử nghiệm của pha I/II đã hoặc đang được điều khiển trên thế giới. Phần lớn kết hợp nhiều chế phẩm vắc-xin nhằm hướng tăng cường đáp ứng miễn dịch . Chẳng hạn, các vắc-xin ADN-Adenovirút dự tuyển, hay ADN-MVA, mà ở đó có ADN trần, tương ứng với các gen HIV có ích lợi được kết hợp với các gen khác của HIV được hàm chứa một cách riêng biệt của mỗi gen trong Adenovirút hay MVA. Một thử nghiệm của pha III với việc sử dụng protein gp120 đang được thực hiện ở Thái Lan, bắc Mỹ và Hà Lan. Một thử nghiệm khác của pha III được khởi động ở Thái lan năm 2003 đã sử dụng protein gp120 kết hợp với virút canarypox(Alvac) có hàm chứa các gen HIV.
II. Những thử nghiệm vắc-xin đã được ANRS thực hiện:
Dưới sự bảo trợ của ANRS, giữa các năm 1992-1999, có 9 thử nghiệm ở pha I đã được thực hiện. Aventis-Pasteur (trước đây là Pasteur-Mérieux Connaught, mà tên gọi cũ là Pasteur Mérieux Sérum et Vaccines), đã là nguồn khởi động của 7 loại thử nghiệm này.(xem phụ lục bảng 1)
Bảng 1: Những thử nghiệm vắc-xin đã kết thúc:
Thử nghiệm |
Chất sinh miễn dịch |
Mục tiêu |
VAC 01¹ |
Alvac (vCP 125³ )
+rgp 160 |
“Sơ tái chủng” gây miễn dịch hạn chế ở vỏ |
VAC 02¹ |
rgp 160+ peptid v3 |
“Sơ tái chủng” gây miễn dịch hạn chế ở vỏ giống với gây miễn dịch bảo vệ ở tinh tinh |
VAC 03¹ |
Alvac(vCP 205 ) +peptid CTLB-36 |
“Sơ tái chủng” khuynh hướng thứ nhất của gây miễn dịch nhiều lần |
VAC 04² |
6 lipopeptid (Env, Gaz, Nef) |
Xu thế thứ nhất của tạo miễn dịch nhiều lần bởi một hỗn hợp các lipopeptid |
VAC 05¹ |
Alvac(vCP 125)hay chứng Alvac(vCP dại) |
Nghiên cứu trí nhớ trên các đối tượng đã được thử nghiệm
VAC 01 |
VAC 06¹ |
Alvac (vCP 125) hoặc chứng Alvac (vCP dại) |
Nghiên cứu trí nhớ trên các đối tượng đã được tiêm chủng của thử nghiệm VAC 02 |
VAC 07¹ |
Alvac (vCP 300 ) |
Xu thế thứ nhất của tạo miễn dịch nhiều lần có chứa các tài sản CTL |
VAC 08¹ |
Alvac (vCP 205) hoặc peptid CTLB-36 |
Nghiên cứu trí nhớ trên các đối tượng được tiêm chủng VAC 03 |
VAC 09² |
6 lipopeptid (Env, Gag, Nef) |
Nghiên cứu trí nhớ trên các đối tượng được tiêm chủng các thử nghiệm VAC 03 và VAC 07 |
1: người khởi xướng Aventis-Pasteur; 2: khởi xướng ANRS; 3: biểu hiện protein Env(gp 160); 4: biểu hiện các protein Env(gp 120), Gag và Pro; 5: peptid tổng hợp được tạo thành từ một épitop của tế bào T hỗ trợ (p24)và từ một épitop B (V3); 6: biểu thị các protein Env(gp 120), Gag, Pro và tài sản CTL của các protein Pol và Nef.
Các vắc-xin dự tuyển được thử nghiệm là những virút canarypox tái tổ hợp. (Alvac) ngày càng phức tạp có chứa các trình tự mã hoá đối với một số protein virút đã được dùng hoặc đơn độc hoặc phối hợp với các tác nhân sinh miễn dịch khác (các protein của toàn bộ vỏ hay bị cắt cụt) tuỳ theo chiến lược “sơ tái chủng”. Chiến lược tiêm chủng này cho phép làm tăng đáp ứng miễn dịch và được tiến hành bằng 2 thì: gây miễn dịch cơ bản (sơ chủng) bằng một vắc-xin tái tổ hợp tiếp theo là tiêm chủng nhắc lại bằng các phần tử protein của HIV. Những kết quả chính thu nhận được cho phép kết luận :
- Thường quy được gọi là“sơ tái chủng” về đại thể cho phép thu nhận một đáp ứng CTL (CD8+) được thỏa mãn (40 và 33% tuỳ theo mỗi loại vắc-xin đối với VAC 01 và VAC 03).
- Có thể tạo ra một đáp ứng kháng thể nhưng không phải là kháng thể trung hoà.
- Trí nhớ miễn dịch, chính là kiểu miễn dịch tế bào, tồn tại lâu dài ở một số đối tượng (theo cách riêng tuỳ loại được tiêm VAC 01 và VAC 02 mà thể hiện 10% hay 19% vẫn còn có hoạt đông CTL sau 2 năm).
Thử nghiệm VAC 09 là một thử nghiệm về trí nhớ mà ở đó các lipopeptid đã được sử dụng bằng các liều nhắc lại ở những người tình nguyện đã tiêm chủng VAC 03 và VAC 07 (xem Phụ lục bảng 1). Những kết quả của thử nghiệm này cho thấy rằng trên những người tình nguyện đã có đáp ứng trong các lần thử nghiệm trước, rằng người ta có thể nhờ vào sự hỗ trợ của các lipopeptid để gây cảm ứng tác dụng của tiêm nhắc lại. Điều này tạo nên ích lợi của các vắc-xin tái tổ hợp, Alvac hay adenovirút là những vắc-xin đòi hỏi những liều tiêm chủng ngày càng quan trọng để vượt quá sự gây miễn dịch cho các đối tượng chống lại véctơ .
Thử nghiệm VAC 04, đặc biệt quan trọng trong chiến lược của ANRS, đã sử dụng lần đầu tiên các lipopeptid với các kết quả rất khích lệ (Gahery-Segard H.Plaloux G ,2000)và sau 3 mũi tiêm chỉ ra rằng:
- Những đáp ứng kháng thể đối với ít nhất là 1 peptid là 89%
- Những đáp ứng CD4 chống lại HIV được thể hiện trên 79% các đối tượng: đây là các đáp ứng đa đặc hiệu và nhận biết 2,3,4 và 5 peptid ở các tỷ lệ % theo thứ tự 26,26,16 và 5% số các trường hợp.
- Các đáp ứng CD8 gây độc tế bào kháng loại HIV đã được thử nghiệm bởi Elispot và trong các thử nghiệm gây độc tế bào đã quy ước đều rõ ràng, có khả năng sinh sản và đa đặc hiệu trong 54% các trường hợp.
- Các đáp ứng gây độc tế bào chống lại các protein Nef sinh ra từ những chủng virút khác với chủng phân lập từ vắc-xin đã được ghi nhận ở ¾ đối tượng thử nghiệm (Pialoux G, Gahery –Segard H. và cộng sự, 2001) cho thấy một tiêm chủng gây miễn dịch chống lại các epitop được bảo quản và gợi ra một khả năng bảo vệ các quần thể bị phơi nhiễm với các biến chủng khác nhau của HIV.
Do vậy những lipopeptid cảm ứng những tế bào T mạnh mẽ, đa biểu vị và có thể sinh sản trên một số đối tượng có ý nghĩa được tiêm chủng. Những đáp ứng này liên kết với các đáp ứng kháng thể. Hơn nữa các lipopeptid rất dung nạp : những phản ứng tại chỗ và hệ thống đều tương tự với các phản ứng của các vắc-xin dự tuyển đã được nghiên cứu trước đây.
Qua các kết quả hứa hẹn, ANRS đã xem việc tiếp tục theo dõi các thử nghiệm vắc-xin giai đoạn I và II ở những người tình nguyện không sử dụng các lipopeptid để thu được toàn bộ các dữ liệu trên khả năng cảm ứng các đáp ứng tế bào chống lại HIV là mục tiêu nghiên cứu. Việc quyết định tiến hành một thử nghiệm ở pha III là thử nghiệm cho phép nghiên cứu khả năng của typ văc xin dự tuyển này trong cộng đồng sẽ được sáng tỏ bằng các kết quả thu được trong thời gian từ 3-5 năm tới.
- Các thử nghiệm vắc-xin đã và đang được lập trình:
Một loạt ít ra là 8 thử nghiệm liên quan đến giới thiệu công thức , liều lượng, các đường chỉ định các lipopeptid đã được lên chương trình từ nay đến các năm 2006-2007. Các lipopeptid đã được nghiên cứu trên các thử nghiệm lâm sàng của các giai đoạn I và II duy nhất hay là theo chiến lược sơ-tái chủng (prime boost) phối hợp với véc tơ Alvac.
Ba thử nghiệm đang tiến hành năm 2002
Bảng 2: Các thử nghiệm vắc-xin đang thực hiện
VAC 10: Pha 1: người khởi xướng: Aventis-Pasteur ; kết thúc : 01/2003 |
Mục đích |
Thử nghiệm một hỗn hợp mới các lipopeptid mà hỗn hợp này có thể được thêm vào một lipopeptid có mang epitop tế bào T hỗ trợ |
Số người tình nguyện |
60 người (được chia làm 4 nhóm). |
Phương pháp |
Thử nghiệm tại một trung tâm, nghiệm pháp so sánh, ngẫu nhiên và mở |
Vắc-xin dự tuyển |
Alvac (vCP 1452) tái tổ hợp Canarypox biểu thị protein vỏ gp 120 (phối hợp liên kết) ở phần xuyên màng của gp 41, protein Gag, các tài sản CTL của Nef và Pol LIPO-5: hỗn hợp của 5 lipopeptid tổng hợp mà các trình tự peptid thể hiện các epitop CTL được chứa trong các protein Gag(aa 17-35+ aa 253-284), Pol (aa 325-355)và Nef (aa 66-97+ 116-145) của HIV –1.
Mỗi peptid được liên kết đoạn cuối C vào một acid monopalmitique qua một lysine.
LIPO-6T : LIPO-5 được bổ sung bởi một lipopeptid tương ứng với một epitop CD4 của độc tố uốn ván (aa 830-845). |
Sơ đồ thử nghiệm |
: 5 mũi tiêm vào các thời điểm M0, M1, M3, M6 và M12 với vCP1452 hay LIPO-5 hoặc LIPO-6T+ vCP1452và được theo dõi đến M24. |
VAC 12: Pha 1: người khởi xướng: Biovector Therapeutics SA; kết thúc: 8/2002 |
Mục đích |
: Thử nghiệm một hỗn hợp mới mà ở đây mỗi lipopeptid đượcliên kết với một epitop của tế bào T hỗ trợ. |
Số người tình nguyện |
15 |
Phương pháp |
thử nghiệm tại một trung tâm, mở |
Vắc-xin dự tuyển |
LPHIV1 : hỗn hợp 4 lipopeptid tổng hợp mà các trình tự peptid được chứa trong các protein Gag (1977-85), Pol-RT (aa 342-354), Pol (aa 476-484) và Nef ( aa 62-82) của HIV 1. Mỗi peptid được liên kết theo cách cộng tuyến (cùng đường thẳng) vào một epitop của tế bào T hỗ trợ của dộc tố uốn ván (aa 830-843) được phân nhánh thành N tận cùng đến một acid monopalmitique |
Sơ đồ thử nghiệm |
3 mũi tiêm M0, M1, M3 và được theo dõi đến M12 |
VAC 17: Pha 1: ngưới khởi xướng: ANRS; kết thúc : 10/2002 |
Mục đích |
: kiểm tra sự đáp ứng trí nhớ của các lipopeptid trên các đối tượng được tiêm chủng từ thử nghiệm VAC 10. |
Số người tình nguyện |
35 (25 từ 4 nhóm của VAC 10 và 10 tự nguyện một cách hồn nhiên cho kháng nguyên LIPO-6T (nhóm chứng). |
Phương pháp |
thử nghiệm tại một trung tâm, so sánh và mở. |
Vắc-xin dự tuyển |
LIPO-6T (xem VAC 10) |
Sơ đồ thử nghiệm |
Một mũi tiêm nhắc lại từ 16-18 tháng sau M12 của VAC 10 và được theo dõi đến M6. |
- Các thử nghiệm VAC 10 và VAC 12 cho phép đánh giá độc tính và tính sinh miễn dịch của các chế phẩm lipopeptid bao gồm các peptid của HIV1 khác nhau. Chúng được hiểu là để gây cảm ứng các đáp ứng của CD4 và CD8 mạnh mẽ. Thật ra sự cảm ứng in vivo đối với CTL (CD8+) đòi hỏi sự kích thích đồng thời một đáp ứng CD4 của tế bào T hỗ trợ, một epitop CD4+ của độc tố uốn ván đã được thêm vào. Đối với VAC 10, một lipopeptid TT đã được thêm vào với chế phẩm vắc-xin LIPO-5 trong lúc mà đối với VAC 12, peptid TT được ghép theo kiểu cùng đường thẳng cộng tuyến (colinéaire) vào mỗi một lipopeptid có ích lợi.
- Thử nghiệm VAC 17 kiểm tra đáp ứng trí nhớ của các đối tượng đã được tiêm chủng trong thử nghiệm VAC 10.
Bốn thử nghiệm đã được đưa vào chương trình 2003
- Thử nghiệm VAC 15 sẽ kiểm chứng sự dung nạp và tính sinh miễn dịch của sự biểu thị mới (formulation) của lipopeptid, đơn giản và ít tốn kém hơn để sản xuất so với các dạng trước đó.
- Thử nghiệm VAC 16 sẽ so sánh các đường tiêm trong da, dưới da, và trong cơ để xác định một đường gây miễn dịch hữu hiệu nhất và/ hoặc ít tốn vắc-xin nhất.
- Thử nghiệm VAC 18 nhằm mục đích xác định liều tối thiểu của lipopeptid để thu được khả năng gây miễn dịch tối ưu (nghiệm pháp liều-biến thiên”dose-ranging” với LIPO-5)
- Thử nghiệm VAC19/ HVTN042 sẽ phải khẳng định theo kiểu mùvà trên một số lớn những người Mỹ tình nguyện, những kết quả của nghiệm pháp VAC10 liên quan đến vắc-xin dự tuyển LIPO-5. Dạng lipopeptid này sẽ cùng được thử nghiệm “tiêm nhắc lại” với sự nghiên cứu liều có tác dụng, Alvac vCP 1452 được dùng để gây miễn dịch sơ bộ.
Hai thử nghiệm thăm dò tính miễn dịch niêm mạc cũng đã được đưa vào chương trình (xem bảng 4). Thử nghiệm VAC14 sẽ nghiên cứu đường niêm mạc như đường mới để gây miễn dịch chống lại HIV –1 và những đáp ứng miễn dịch được cảm ứng ở các vị trí niêm mạc. Chế phẩm vắc-xin sẽ được chỉ định trên các phụ nữ tình nguyện theo đường niêm mạc, âm đạo, trực tràng; miễn dịch niêm mạc sẽ được đánh giá qua niêm mạc mũi, miệng, âm đạo và hậu môn.
Thử nghiệm tiền VAC 14 hiện đang được tiến hành để đánh giá khả năng các kỹ thuật lấy bệnh phẩm làm sao không gây sang chấn để không có các bạch cầu và các globulin miễn dịch có nguồn gốc từ máu.
Bảng 3: Những thử nghiệm vắc-xin đã lên chương trình:
VAC 16 : pha I, người khởi xướng: ANRS; bắt đầu thử nghiệm : dự kiến quý 1/2003 |
Mục đích |
Xác định đường gây miễn dịch nào là hiệu quả và ít tiêu thụ vắc-xin nhất giữa tiêm trong da, dưới da và tiêm bắp |
Số người tình nguyện: |
65 được chia làm 3 nhóm |
Phương pháp |
Thử nghiệm ở nhiếu trung tâm, mở, ngẫu nhiên, phân tầng |
Vắc-xin dự tuyển |
LIPO-5, xem VAC 10 |
Sơ đồ thử nghiệm |
Tiêm 3 mũi vào các thời điểm S0, S4 và S12 theo đường tiêm bắp hoặc dưới da, hoặc trong da và theo dõi đến S24 |
VAC 18 : pha II, người khởi xướng: ANRS; dự định bắt đầu thử nghiệm : quý 1/2003 |
Mục đích |
Xác định liều tối thiểu tối ưu (nghiệm pháp “liều lượng biến thiên” |
Số người tình nguyện: |
132 (chia làm 4 nhóm) |
Phương pháp |
Thử nghiệm tại nhiều trung tâm, so sánh, ngẫu nhiên, mù đôi |
Vắc-xin dự tuyển |
LIPO-5, xem VAC 10
Giả dược : pha loãng LIPO-5 hoặc dung dịch glucoza 5% đệm bằng Tris/HCl 20 mm |
Sơ đồ thử nghiệm |
4 mũi tiêm vào các thời điểm S0,S4, S12, S24 với 500 hoặc 150 hoặc 50 hoặc 0 mg LIPO-5 và theo dõi đến S48 |
VAC 19 : pha II, khởi xướng: NIAID (Hoa kỳ); bắt đầu thử nghiệm : quý 1/2003 |
Mục đích |
Khẳng định ở quy mô rộng rãi sự đánh giá của cộng đồng khoa học quốc tế về những kết quả nêu trên được thu nhận bởi LIPO-5 trong một chiến lược vắc-xin typ “sơ tái chủng” với nghiệm pháp “liều lượng biến thiên của tiêm nhắc lại” |
Số người tình nguyện: |
180 chia làm 10 nhóm: 5x30 người được gây miễn dịch + 5x6 người tình nguyện dùng giả dược |
Phương pháp |
Thử nghiệm tại nhiều trung tâm, so sánh, ngẫu nhiên bằng mù đôi dùng giả dược |
Vắc-xin dự tuyển |
Canarypox tái tổ hợp Alvac (vCP 1452:xem VAC 10)
LIPO-5 : xem VAC 10. Placebo Alvac LIPO-5 |
Sơ đồ thử nghiệm |
Gây miễn dịch đơn giản với 500mg LIPO-5 hoặc một liều Alvac ở S0, S4, S12 và S24 hoặc gây miễn dịch kiểu “sơ tái chủng” với một liều Alvac ở S0 và S4 rồi nhắc lại 500, 150 hay 50 mg LIPO-5 ở S12 và S14. theo dõi tới M18. |
VAC 15: pha I, người khởi xướng: ANRS; dự kiến bắt đầu : quý III/2003 |
Mục đích |
Đánh giá độ dung nạp và tính sinh miễn dịch của lipopeptid thế hệ thứ hai. Các lipopeptid đã được thu nhận bởi phương pháp tổng hợp mới cho phép sản xuất ở quy mô lớn |
Số người tình nguyện: |
Đang còn thảo luận |
Phương pháp |
Thử nghiệm tại nhiều trung tâm |
Vắc-xin dự tuyển |
LIPO-5 theo công thức mới |
Sơ đồ thử nghiệm |
Đang còn thảo luận |
Bảng 4: Nghiên cứu đường gây miễn dịch qua niêm mạc:
Pré-VAC14 : pha I, Khởi xướng: ANRS; kết thúc thử nghiệm: tháng 1/2003 |
Mục đích |
Kiểm tra tính khả thi của nghiệm pháp VAC 14 trong nghiên cứu đường niêm mạc xem như đường gây miễn dịch mới |
Số người tình nguyện: |
6 b/n HIV(+) |
Phương pháp |
Nghiên cứu sinh lý học người để đánh giá các kỹ thuật lấy bệnh phẩm (âm đạo, hậu môn-trực tràng, nước bọt, đường niêm mạc mũi). |
Vắc-xin dự tuyển |
|
Sơ đồ thử nghiệm |
2 lần lấy bệnh phẩm cách nhau 01 tháng |
VAC 14: pha I;khởi xướng: ANRS; dự định bắt đầu: quý I/2003 |
Mục đích |
Nghiên cứu đường niêm mạc như một đường gây miễn dịch mới |
Số người tình nguyện: |
63 phụ nữ tình nguyện (đượcchia làm 7 nhóm) |
Phương pháp |
Thử nghiệm ở 2 trung tâm , so sánh, ngẫu nhiên, phân tầng, mở |
Vắc-xin dự tuyển |
Protein gp 160 tái tổ hợp
( gp120-MN/gp 41-LAI 2)và/ hoặc tá chất DC-chol (một sản phẩm tổng hợp dẫn xuất từ cholesterol) |
Sơ đồ thử nghiệm |
4 mũi vào các thời điểm M0, M1, M2 và M3 với gp 160+DC-chol được chỉ định theo đường mũi, âm đạo và trực tràng hay DC-chol chỉ định theo đường âm đạo. Theo dõi đến M13. |
(Theo báo cáo hoạt động trong các năm 2000-2002 của Cơ quan quốc gia nghiên cứu SIDA của Pháp –ANRS) GS. TS. HẠ BÁ KHIÊM
(còn tiếp)
|