|
Khả năng thực tiễn cho một vắc-xin chống lại các tác nhân lây qua đường tình dục vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu. Mặc dầu tiến triển có vẻ chậm nhưng những tiến bộ đáng kể trong việc hiểu biết về sinh học của tác nhân lây qua đường tình dục hay cơ chế gây bệnh của loại nhiễm trùng nào cho thấy chiều hướng ngày càng lạc quan hơn. Hiện nay chỉ có một loại nhiễm trùng lây qua đường tình dục (STIs) có sẵn vắc-xin là viêm gan B, tuy nhiên các nhà khoa học vẫn đang nỗ lực tìm kiếm một vắc-xin phòng ngừa được nhiều bệnh như lậu, chlamydia, Herpes simplex, Papilloma vi-rút và HIV. Chi phí về y tế và kinh tế đối với các bệnh này khá cao và những vắc-xin hiệu quả có tiềm năng trở thành những mô hình phòng ngừa bệnh vô giá.
Hàng loạt những hứa hẹn về việc chủng ngừa phòng tránh nhiễm trùng lây qua đường tình dục đã được nêu ra, nhiều người tin rằng việc tiếp cận những hành vi nguy cơ hiện nay để kiểm soát STI tương đối đơn giản trong khi chờ đợi những kỹ thuật mới. “Cho đến khi một vắc-xin có sẵn… ” là một câu thường thấy trong những bài báo về phòng ngừa STI.
Vấn đề đang tranh cãi hiện nay là: chúng ta có lạc quan về vắc-xin phòng ngừa nhiễm trùng lây qua đường tình dục khi chỉ dựa vào khả năng kỹ thuật hiện nay để triển khai vắc-xin, trong khi đó hầu hết những cuộc tranh cãi đều lờ đi những yếu tố về tâm lý xã hội có thể ảnh hưởng đến chương trình triển khai vắc-xin cho những người có nguy cơ. Bởi vì quá trình triển khai còn phải dựa vào những thử nghiệm lâm sàng thành công và chờ đợi việc cấp giấy phép, do vậy việc hiểu biết về cách thức chủng ngừa STI được thực hiện thực sự trong tương lai vẫn còn trong thời kỳ thai nghén.
Như vậy, vắc-xin STI có thể chưa được sử dụng trong nhiều năm tới khi mà những rào cản về luận chứng đang dần được xác định và khắc phục. Sự kiện là hầu hết những trẻ vị thành niên hoạt động tình dục vẫn còn cảm nhiễm đối với viêm gan B trong hai thập kỷ qua, sau khi có vắc-xin phòng ngừa được xem là hiệu quả, chính là bằng chứng rõ ràng cho thấy việc có sẵn một vắc-xin STI không bảo đảm tính hữu dụng của nó.
Việc triển khai một chương trình vắc-xin STI có tính hiệu quả cần xem xét đến ít nhất hai lãnh vực:
Thứ nhất, vắc-xin phải được đa số những người có nguy cơ chấp nhận. Nếu không bắt buộc hoặc ép buộc chủng ngừa STI có tính pháp lý thì những người có nguy cơ phải tự nguyện đồng ý nhận vắc-xin. Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định này bao gồm lòng tin cá nhân về tính cảm nhiễm, nhận thức về tính hiệu quả của vắc-xin, thái độ của cha mẹ và gia đình, những tập quán văn hóa và tình dục, thái độ và trách nhiệm của nhà cung cấp đối với chất lượng vắc-xin hay chương trình tiêm chủng (thí dụ giá cả vắc-xin, hình thức chủng ngừa). Trong hai thập kỷ qua, chúng ta đã học được nhiều bài học rằng tính dục là “sức mạnh”, thậm chí “thống trị”, hay là yếu tố chiếm ưu thế về nguy cơ nhiễm trùng lây qua đường tình dục và hành vi phòng ngừa. Tập trung vào những vấn đề này chắc chắn sẽ là một phần quan trọng trong nỗ lực chủng ngừa STI.
Thứ hai, việc thay đổi hành vi sau chủng ngừa có thể làm giảm hiệu quả của chương trình chủng ngừa STI. Thí dụ, giả sử việc chủng ngừa HIV đưa đến việc nhận thức sai về nguy cơ nhiễm HIV và nảy sinh ra một ý kiến khác cho rằng những loại STI khác sẽ gia tăng theo sau hay là hậu quả của những hành vi tình dục có nguy cơ, điều này có thể làm giảm tác động của vắc-xin và tạo ra một nghịch lý là gia tăng tỉ lệ mới mắc những nhiễm trùng lây qua đường tình dục khác.
Những yếu tố có liên quan với tính chấp nhận vắc-xin
Một số hiểu biết về những vấn đề nêu trên có thể được rút ra từ những bài học đã học được về tính chấp nhận của những vắc-xin khác. Các nghiên cứu về sự tồn tại của vắc-xin thí dụ như cúm, viêm gan B và ho gà đã cho thấy việc chấp nhận chủng ngừa tương đối thấp ở những người có nguy cơ nhất. Thí dụ chỉ có 65,5% người già chủng ngừa vắc-xin cúm năm 1997, hoặc 30% những người bị viêm gan B đã không được chủng ngừa trước đó. Tương tự tỉ lệ chủng ngừa viêm gan B lần đầu thay đổi từ 44-70%. Điều này cho thấy không chắc vắc-xin có sẵn sẽ làm gia tăng tính chấp nhận chủng ngừa.
Sự chấp nhận vắc-xin còn phụ thuộc vào lòng tin về sức khỏe như là việc nhận thức về tính cảm nhiễm của bệnh, lòng tin về độ trầm trọng của bệnh, những lợi ích của chủng ngừa và giảm thiểu hóa những cản trở của việc chủng ngừa, những đặc tính của vắc-xin (hiệu quả và chi phí) hay những vấn đề thu nhận vắc-xin (chuyên chở). . . Một số nghiên cứu sơ bộ cho thấy lòng tin về sức khỏe có ảnh hưởng đến tính chấp nhận vắc-xin STI. Mức độ bao phủ của vắc-xin có thể đạt được ở những quần thể cảm nhiễm tuy nhiên phải mất nhiều năm .
Chương trình chủng ngừa vắc-xin nhiễm trùng lây qua đường tình dục còn gặp phải vấn đề về xã hội. Những quan điểm đối lập và gây nhiều tranh cãi cho rằng việc chủng ngừa này là điều kiện thuận lợi cho việc quan hệ tình dục ngoài hôn nhân và lo sợ rằng tác dụng không mong muốn về mặt y tế và xã hội của chương trình có thể đã tạo ra những hoạt động tình dục như thế. Từ đó có thể ảnh hưởng thậm chí khuyến khích những hình thức không được xã hội chấp nhận về hành vi tình dục cũng như chương trình phân phối bao cao su.
Ở mức độ cá nhân: nhiều yếu tố có thể liên quan đến sự chấp nhận vắc-xin. Sự chấp nhận phải là một nhìn nhận rõ ràng về nguy cơ STI. Sự kỳ thị vẫn là một cản trở cho việc chấp nhận ngừa thai và khám chữa STI. Việc thiết lập những chuẩn mực mới về hành vi tình dục lành mạnh là một phần quan trọng của chương trình kiểm soát STI, tuy quá trình để đạt mục tiêu này vẫn còn yếu.
Việc bằng lòng tiêm chủng STI cũng là một vấn đề khó khăn. Bất kỳ chương trình tiêm chủng STI hiệu quả nào cũng cần bao gồm cả những trẻ vị thành niên, những người cần hiểu biết rõ trước khi có những hoạt động tình dục. Nhiều người trẻ bằng lòng đến khám chữa bệnh tại các cơ sở STI nhưng không chắc họ đã chấp nhận chủng ngừa. Về cơ bản, ngày nay chúng ta đã hiểu biết khá rõ về trẻ vị thành niên nhưng không có nghĩa chúng ta có thể chắc chắn rằng họ bằng lòng chủng ngừa STI. Tuy nhiên, khi yêu cầu cha mẹ bằng lòng cho con cái họ chủng ngừa, chắc chắn sẽ tạo ra những cản trở cho chương trình vì hầu hết trẻ vị thành niên không thể thảo luận về hoạt động tình dục của chúng với cha mẹ. Hơn nữa, chiến lược tiêm chủng tập trung vào trẻ vị thành niên chắc chắn phải được sự đồng ý của cha me chúng. Cha mẹ có thể sẽ ngại hoặc từ chối chấp nhận những phản ứng phụ do vắc-xin gây ra, mặc dù những tác dụng phụ này tuy rất nhỏ, trong khi nguy cơ mắc một STI có thể chỉ xảy ra nhiều năm sau đó. Một số bậc cha mẹ cũng lo ngại con cái của họ có thể hiểu rằng cha mẹ chúng chấp nhận việc chủng ngừa cũng có nghĩa là họ chấp nhận việc quan hệ tình dục của chúng trước hôn nhân. Trên hết, việc cha mẹ chấp nhận con cái họ được chủng ngừa có thể là vấn đề then chốt, do vậy đòi hỏi cần phải nghiên cứu và xem xét để lập kế hoạch chương trình tiêm chủng thích hợp.
Một yếu tố quan trọng khác có liên quan đến việc chấp nhận vắc-xin là thái độ và kỹ năng giao tiếp của nhân viên y tế. Bác sĩ và nhân viên y tế nắm rõ tầm quan trọng của việc chủng ngừa STI cho trẻ vị thành niên, sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của chương trình. Hơn nữa nhân viên y tế phải sẵn lòng và có khả năng thảo luận với bệnh nhân và cha mẹ về cách thức và tác dụng của việc chủng ngừa STI.
Thay đổi hành vi sau chủng ngừa
Việc chấp nhận vắc-xin cũng có thể liên quan với những thay đổi sau đó về nguy cơ STI và hành vi tình dục. Có thể sau khi chủng ngừa nhận thức về nguy cơ nhiễm STIs sẽ giảm đi và gia tăng nhận thức rằng bạn tình của mình cũng đã được chủng ngừa và họ an toàn. Việc thay đổi những hành vi này có liên quan đặc biệt đến chương trình vắc-xin HIV. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy rằng khi triển khai chương trình điều trị HIV có hiệu quả sẽ kéo theo việc giảm những hành vi tình dục an toàn. Thí dụ một nghiên cứu trên nhóm tân binh ở Uganda cho thấy 34% nói rằng họ sẽ có nhiều bạn tình hơn và trên 50% nói sẽ ngưng sử dụng bao cao su sau khi chủng ngừa HIV. Ở Mỹ khi hỏi 140 trẻ vị thành niên rằng họ sẽ ứng xử ra sao sau khi nhận được vắc-xin HIV, 77% trẻ vị thành niên tin rằng hành vi tình dục có nguy cơ sẽ gia tăng.
Nhu cầu đối với việc nghiên cứu về tâm lý
Trong tương lai chắc chắn vắc-xin STI sẽ là một thành phần trong chiến lược kiểm soát và phòng chống STI. Do vậy mà những kinh nghiệm trước đây cho thấy cần phải tập trung vào ba vấn đề then chốt:
- Lòng tin, thái độ và hành vi có thể thay đổi đến tính chấp nhận và từ chối chương trình chủng ngừa STI. Việc đánh giá những người có nguy cơ rất quan trọng nhưng việc hiểu biết về sự chấp nhận chương trình ở cha mẹ và nhân viên y tế có lẽ cũng có liên quan.
- Yếu tố văn hóa xã hội sẽ ảnh hưởng đến tính chấp nhận hay từ chối vắc-xin STI. Đây chính là những thử thách đặc biệt .
- Thay đổi thái độ và hành vi liên quan đến chủng ngừa STI. Nếu việc chủng ngừa dẫn đến việc gia tăng hành vi nguy cơ, cần đánh giá và tiến hành tham vấn trước và sau khi triển khai chương trình để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hành vi tình dục tự bảo vệ bao gồm việc trì hoãn có quan hệ tình dục sớm ở trẻ vị thành niên.
Trên đây là những yếu tố cần cân nhắc trong việc triển khai chương trình vắc-xin STI đạt được hiệu quả. Nhiều cơ hội có thể tham gia vào sự thành công của chương trình như vấn đề tâm lý xã hội và hành vi. Có thể không quá sớm để bắt đầu những công việc cơ bản nhưng nó sẽ bảo đảm tính hiệu quả lâu dài của vắc-xin trong việc kiểm soát và phòng chống STI.
Tuyết Nhung
Lược dịch Vaccines against Sexually Transmitted Infections. Promise and problem of the magic bullet for prevention and control. Gregory D. Zimet et al. J. Am. sexually Transmitted Disease Association. January 2000, vol 27, number1: 49-51.
Infinite Menus, Copyright 2006, OpenCube Inc. All Rights Reserved.
|