- GIỚI THIỆU
Giám sát dịch tễ học một sự kiện sức khỏe (cụ thể là HIV/AIDS) làsự thu thập liên tục và có hệ thống các thông tin về sự phân bố và chiều hướng của sự kiện sức khỏe này; sau đó phân tích, giải thích và phổ biến những thông tin về sự kiện đó; nhằm xác định ưu tiên để có định hướng, kế hoạch thích hợp cũng như lượng giá các chương trình can thiệp vào sự kiện sức khỏe trên (Xin xem sơ đồ bên dưới). Theo thường quy hiện nay, có hai hệ thống giám sát về dịch HIV/AIDS là báo cáo ca bệnh và giám sát trọng điểm (GSTĐ).
Báo cáo ca bệnh (HIV/AIDS/Tử vong): đây là hệ thống báo cáo thường quy như các bệnh truyền nhiễm khác. Bệnh nhân được phát hiện chẩn đoán ở các cơ sở y tế (CSYT) hay trường trại (xét nghiệm chẩn đoán HIV); nếu là chẩn đoán AIDS thì phối hợp vừa xét nghiệm HIV và một số biểu hiện lâm sàng theo quy định của Bộ Y tế.
Giám sát trọng điểm HIV là sự thu thập có hệ thống và liên tục các số liệu về chiều hướng nhiễm HIV ở các nhóm quần thể có nguy cơ khác nhau (các nhóm này sẽ phản ánh một bức tranh gần như toàn bộ về quần thể dân cư đang sinh sống), còn gọi là quần thể trọng điểm (QTTĐ), ở một số nơi đã được chọn lựa (vị trí trọng điểm).
Mục tiêu của giám sát HIV/AIDS
- Xác định tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong các quần thể trọng điểm
- Theo dõi chiều hướng tỉ lệ hiện nhiễm HIV theo thời gian
- Xác định vấn đề ưu tiên
- Lập kế hoạch, hoạt động can thiệp
- Đánh giá hiệu quả can thiệp
- Cung cấp thông tin cho việc ước tính dự báo HIV/AIDS
- BÁO CÁO CA BỆNH
Thuận lợi
Hệ thống báo cáo này có những ưu điểm là thu thập thông tin về các trường hợp HIV/AIDS mà không cần phải tiến hành những cuộc điều tra trong cộng đồng vốn tốn kém và khó thực hiện. Hệ thống này cũng góp phần cảnh báo sự biến động của dịch HIV và ước tính dự báo HIV/AIDS hiện tại và trong những năm tiếp theo.
Khó khăn và hạn chế
Chẩn đoán xác định nhiễm HIV/AIDS chưa được thực hiện ở một số tỉnh
HIV/AIDS có phần khác biệt với một số bệnh truyền nhiễm khác là chẩn đoán chủ yếu dựa vào xét nghiệm. Để chẩn đoán một trường hợp nhiễm HIV, bệnh nhân cần được thực hiện theo phương cách 3 (3 xét nghiệm với 3 loại kỹ thuật hay nguyên lý chuẩn bị kháng nguyên khác nhau). Việc thực hiện xét nghiệm như vậy cũng không đơn giản chút nào vì đòi hỏi phải có nguồn nhân lực, trang thiết bị và phương tiện xét nghiệm. Hiện nay, để chẩn đoán xác định một trường hợp nhiễm HIV ở các tỉnh thành, hầu như chỉ có trung tâm y tế dự phòng (TTYTDP) và bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có khả năng thực hiện. Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng có khả năng công bố kết quả cho bệnh nhân, mà cần kiểm định lại tại các viện khu vực.
Báo cáo bệnh nhân AIDS lại càng không đơn giản và khó thực hiện ở phần lớn những nơi thiếu các phương tiện chẩn đoán sớm các bệnh nhiễm trùng cơ hội hay các bệnh liên quan AIDS. Đó là một trong những khó khăn ở một số tỉnh miền Nam Việt Nam hiện nay.
Số ca báo cáo chỉ là phần nổi của tảng băng
Thông tin từ các ca bệnh HIV/AIDS ở CSYT nhà nước (phần trên của tảng băng nổi) không thể đánh giá chính xác được tình hình nhiễm HIV/AIDS ở các quần thể dân cư. Thông thường, bệnh nhân nhiễm HIV (không cảm thấy là mình mắc bệnh) vẫn sống và làm việc bình thường, trung bình khoảng 10 năm, trước khi biểu hiện các triệu chứng. Ngoài ra, sự phân biệt kỳ thị đã khiến cho nhiều người có hành vi nguy cơ nhiễm HIV không dám đến xét nghiệm tại các CSYT.
Hệ thống y tế tư nhân đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là ở khu vực miền Nam. Rất nhiều người khi có bệnh đã đến CSYT tư hơn là công. Thế nhưng, hiện nay, kiến thức hiểu biết và chăm sóc HIV/AIDS, cả công tác tham vấn cho bệnh nhân... hầu như còn kém, thì vấn đề hỗ trợ báo cáo bệnh nhân AIDS lại càng không thực thi. Đây cũng là một thách thức trong hệ thống báo các ca bệnh AIDS hay tử vong.
Báo cáo trùng lắp
Số ca báo cáo phần lớn phát hiện từ trường trại, trong khi còn khá thấp ở các kênh tham vấn xét nghiệm tự nguyện hay CSYT. Thời gian nhiễm HIV kéo dài và việc chẩn đoán HIV lặp đi lặp lại nhiều lần trên cùng một bệnh nhân HIV (do bệnh nhân HIV ở các trường trại khác nhau, hoặc tự đi xét nghiệm nhiều nơi, hay cùng một trường trại nhưng được xét nghiệm lặp lại qua nhiều năm) đã khiến cho các báo cáo trở nên trùng lắp. Việc ghi nhận tuổi, mà không ghi nhận năm sinh sẽ khiến cho báo cáo ca bệnh HIV càng dễ dàng trùng lắp hơn vì mỗi năm tuổi người bệnh sẽ khác đi.
Nguyễn Vũ Thượng
(Còn tiếp)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Teutsch S.M., Churchill R.E., Principles and Practice of Public Health Surveillance, OxfordUniversity Press 1994
- Beaglehole R., Bonita R., Kjellstromm, Basic Epidemiology, WHO, Geneva 1993
- Bộ Y tế, UBDSGĐTE, Báo cáo kết quả điều tra lượng giá nguy cơ nhiễm HIV/AIDS ở 7 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Phước, Bình Dương, Long An, Sóc Trăng, Nhà Xuất Bản Y học, 2002
- Viện VSDT TƯ, Hội nghị GSTĐ HIV/AIDS và STI Năm 2004, Hà Nội 05/2004
|