NHẬN BIẾT NGUY CƠ VÀ THAM VẤN GIẢM NGUY CƠ
Một phụ nữ mại dâm (PNMD) đến thăm khám tại cơ sở y tế vì bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (gọi tắt là STIs) do đã có hành vi quan hệ tình dục không an toàn. Điều này có thể do một số nguyên nhân:
- Thiếu vắng kiến thức liên quan đến phòng lây nhiễm STIs và HIV
- Không có sẵn bao cao su (BCS)
- Không thích phải tốn tiền để mua BCS
- Không biết cách dùng BCS
- Không có khả năng thương thuyết với khách hàng về việc sử dụng BCS
- Không thích sử dụng BCS
- Thao tác sử dụng BCS phức tạp
Một số nơi, PNMD không dám mang theo BCS vì lo sợ cảnh sát nếu phát hiện thì cho rằng đây là một chỉ điểm của việc mua bán dâm.
Trên thực tế, một số PNMD (nhất là PNMD hành nghề gián tiếp: khách sạn, nhà hàng, karaoke, mát-xa, hớt tóc…) tuy vẫn biết về HIV/STIs nhưng do cái “sở thích”, cái “Thiện cảm” hay “Đam mê” với một anh khách bảnh bao, ga-lăng nên đã quên đi cái nguy hiểm của căn bệnh chết người (HIV) và đã “liều mình” QHTD mà không có các biện pháp bảo vệ an toàn. Một số trường hợp do khách hàng trả “giá cao” quá nên cô ta sẵn sàng chìu lòng khách.
Tuy nhiên, một số yếu tố thường gặp có thể ảnh hưởng đến việc không sử dụng BCS ở PNMD:
- Thiếu kiến thức phòng lây nhiễm HIV/STIs
- Không có sẵn BCS
- Không thương thuyết được với khách hàng vốn không thích sử dụng BCS
Thầy thuốc điều trị không chỉ có trách nhiệm điều trị lành bệnh cho bệnh nhân mà còn phải có trách nhiệm giáo dục tham vấn sao cho bệnh nhân không bị mắc lại căn bệnh vốn có thể phòng ngừa với các biện pháp khá đơn giản.
Thầy thuốc cũng nên giáo dục hay tham vấn về môi trường hay hoàn cảnh đã khiến cho bệnh nhân, mà cụ thể là PNMD, đã không sử dụng BCS khi QHTD, nhất là với khách hàng. Khi tìm hiểu được toàn cảnh của vấn đề (cụ thể ở đây là sử dụng BCS) thì “cái gốc” HIV/STIs mới được giải quyết. Giáo dục không có nghĩa là đe dọa bệnh nhân; ngược lại, giáo dục phải giúp cho bệnh nhân thấy được ý nghĩa hết sức quan trọng của việc sử dụng BCS khi QHTD với khách hàng. Phải nhấn mạnh đến ý nghĩa “Dù chỉ một lần lầm lỡ thì đều có thể dẫn đến căn bệnh chết người”.
Và sau cùng, chồng hay bạn tình chung sống cũng đóng một vai trò không nhỏ đối với tình trạng mắc STIs ở những người PNMD. Những người này một khi chấp nhận “bà xã“ của mình hoạt động mại dâm thì có lẽ họ cũng có nhiều bạn tình khác. Điều này đã được tìm thấy trong một nghiên cứu: người đa bạn tình thường ghép cặp với một người vốn cũng có nhiều bạn tình. Hiệu suất lây truyền của STIs khá cao, một khi một trong 2 người mắc bệnh thì người còn lại hầu như cũng sẽ mắc bệnh nếu như QHTD mà không sử dụng BCS.
Như vậy, giáo dục cho chính người bệnh vẫn chưa đủ mà còn phải khuyến khích người bệnh kêu gọi bạn tình chung sống hay bạn tình thường xuyên hay khách quen đến cơ sở khám chữa bệnh để được điều trị và tham vấn.
TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH Ở PHỤ NỮ NGUY CƠ CAO
Nhiều yếu tố khiến cho PNMD ít tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh STIs như:
- Sự kỳ thị và phân biệt đối xử của thầy thuốc
- Kỳ thị của những người dân chung quanh cơ sở khám chữa bệnh
- Sợ bị phát hiện và chỉ điểm
- Tốn kém
- Đi lại khó khăn: phương tiện, khoảng cách
- Không biết các cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh STIs
Phụ nữ mại dâm thường mang một tâm trạng lo sợ, sợ mọi người biết mình hoạt động, sợ bị xã hội kỳ thị, sợ bị chỉ điểm…Chính những yếu tố này đã khiến cho họ càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh, nhất là các bệnh lý nhiễm trùng đường sinh dục (chẳng hạn như STIs).
Khi có biểu hiện bất thường về đường sinh dục (huyết trắng bệnh lý, loét sinh dục, đau bụng dưới,…), những người này thường lui tới các nhà thuốc tây để mua vài viên thuốc đặt hay kháng sinh để tự điều trị. Vì vậy, các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục như lậu, chlamydia, giang mai, herpes sinh dục và nhiều tác nhân khác sẽ cứ còn tồn tại và lây truyền cho những khách hàng khác; và cũng chính những tác nhân này có khả năng làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV.
Một yếu tố khác hết sức quan trọng là yếu tố kinh tế. Rất nhiều PNMD cảm thấy tiết tiền khi phải đi khám chữa bệnh. Đây là bài toán khá đau đầu. Thật vậy, chi phí đi khám chữa bệnh STIs đòi hỏi các chi phí: phương tiện đi lại, thời gian, tiền khám bệnh, xét nghiệm, thuốc men…Chính với chi phí khá tốn kém này mà PNMD càng cảm thấy ngần ngại khi phải bỏ tiền đi khám bệnh.
Không biết về các cơ sở khám chữa bệnh hiện có cũng là một trong những yếu tố khiến cho PNMD ít có cơ hội tiếp cận với các cơ sở dịch vụ khám STIs, nhất là PNMD mới hành nghề, hay người ở những nơi xa các trung tâm, thành thị.
Do vậy, ngoài chuyên môn lâm sàng, thầy thuốc cũng nên tìm hiểu hoàn cảnh của bệnh nhân để có định hướng chẩn đoán và điều trị thích hợp, tránh những tốn kém không cần thiết cho bệnh nhân. Thầy thuốc cũng nên chỉ dẫn cho bệnh nhân các cơ sở y tế hiện hành ngoài cơ sở hiện tại để bệnh nhân có thể có sự chọn lựa thích hợp, tùy theo khả năng của họ.
Một khi PNMD đến khám tại các cơ sở y tế, thì những người này cũng khá can đảm và điều quan trọng của thầy thuốc là phải làm sao khiến cho PNMD cảm thấy được trân trọng, tin tưởng và được đối xử công bằng như những bệnh nhân khác. Chính việc gây nên sự thiện cảm ở những người này cùng với điều trị có hiệu quả sẽ là cái mắc xích khiến cho PNMD càng gần hơn với các cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh STIs. Đây là một trong những chiến lược hết sức quan trọng trong công tác phòng chống HIV/AIDS.
Tài liệu tham khảo
- Adimora A.A, Hamilton H., Holmes K.K. and Sparling P. F., Sexually Transmitted Diseases Companion Handbook, Second edition 1994, Copyright by McGraw-Hill, Inc.; p: 245-254
- Bộ Y Tế Việt nam, 2000, Ước tính và Dự báo HIV/AIDS ở Việt nam, 2001-2005.
- Duncan M. E. et al, Sero-epidemiological and Socioeconomic Studies of Genital, Chlamydial Infection in Ethiopian Women, Genitourin Med 1992; 68: 221-227
- Lindan C.P et al, Prevalence of non-ulcerative sexually transmitted diseases among high-risk women in Ho Chi Minh City, Viet Nam using simulataneous culture and non-culture testing, 586/PMAB037, 5th ICAAP, Kuala Lumpur, 20-27 October 1999.
- Nguyễn Vũ Thượng và cộng sự, Quan hệ tình dục sớm có thật sự là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với nhiễm chlamydia cổ tử cung ở phụ nữ trong tuổi sinh sản?, Thời sự Y dược Học, Bộ VII, Số 4, Tháng 8/2002
- Viện VSDT, Hà Nội, 2002, Kết quả điều tra cơ bản dự án cộng đồng hành động phòng chống AIDS, 2002.
- WHO, WPRO & NCHADS, MOH, Cambodia, Controlling STI and HIV in Cambodia, The Success of Condom Promotion, 2001.
- WHO/WPRO, July 2002. Guidelines for the Management of Sexually Transmitted Infections in Female Sex Workers.
- WHO/WPRO, STI/HIV, 2000, 100% Condoms Use Programme in Entertainment Establishments.
|