Lần đầu tiên trong vòng một thập niên, một hội nghị khoa học quan trọng không bị tràn ngập bởi các tin tức và tranh luận về thuốc và tiếp cận với điều trị HIV mà tập trung chủ yếu vào công tác dự phòng. Có 3 lý do khiến người ta làm như vậy.
Thứ nhất, Hội nghị quốc tế chuyên đề về AIDS (International AIDS Symposium) đã quyết định quan tâm đến chủ đề dự phòng (báo cáo miệng và trình bày dưới dạng posters) ngang với chủ đề điều trị. Các nghiên cứu trên các lĩnh vực từ thuốc khử khuẩn ở súc vật đến việc sử dụng liệu pháp dự phòng sau tiếp xúc trên người quan hệ tình dục đồng giới nam ở Mỹ cũng nhận được nhiều quan tâm của cử tọa như là các nghiên cứu về thuốc mới và chiến lược điều trị mới.
Thứ hai, tin tức đơn lẻ nổi bật nhất ở hội nghị là nghiên cứu kiểm soát ngẫu nhiên INSERM của Pháp trên nam giới cắt da qui đầu cho thấy thủ thuật này giúp giảm tần suất mới nhiễm HIV ở nam giới từ 65% đến 75 %.
Thứ ba, nhiều người quan ngại rằng nếu không có giải pháp dự phòng HIV mới mang tính tập trung thì việc tăng cường cung cấp thuốc kháng retrovirus chỉ đưa đến một tỉ lệ hiện nhiễm HIV cao hơn, như chuyện đã xảy ra ở các nước đã phát triển.
Giám đốc UNAIDS Peter Piot trong diễn văn khai mạc hội nghị đã phát biểu rằng chỉ 10% ngừơi đồng tính luyến ái nam và 5% người chích ma túy trên thế giới được tiếp cận với các công cụ dự phòng HIV/AIDS. Peter Piot hoan nghênh lời kêu gọi điều trị HIV phổ quát vào năm 2010 của hội nghị thượng đỉnh các nước phát triển G8 nhưng nói ông “bối rối, thất vọng và thậm chí nổi giận” vì họ (các nước thuộc G8) không hề hô hào tăng cường việc tiếp cận với các công cụ dự phòng trên toàn cầu vào thời điểm trước năm 2010.
Trong cuộc thảo luận đầu tiên vào buổi chiều của hội nghị, Marie Laga của Viện Y học Nhiệt Đới ở Antwerp, Bỉ đã đưa ra một số dự báo nghiêm túc về tác động của điều trị phổ quát đến tỉ lệ hiện nhiễm HIV. Bà nói khảo sát 21 nghiên cứu về hiệu quả ngắn hạn của điều trị trên hành vi tình dục cho thấy nói chung việc điều trị không ảnh hưởng hoặc hơi có ảnh hưởng tiêu cực vì nó làm cho một số người nhiễm có hành vi tình dục không an toàn. Marie Laga nói thêm rằng thậm chí nếu có chương trình điều trị tối hảo mà bỏ qua dự phòng thì số ca chết vì AIDS trên toàn cầu sẽ gia tăng 33% vào năm 2019.
Ngược lại, một chiến lược chỉ dựa vào dự phòng sẽ đưa đến con số tử vong do AIDS vào năm 2019 cũng tương tự như hiện nay. Nếu phối hợp tốt giữa dự phòng và điều trị thì có thể làm giảm 25% số tử vong do AIDS vào năm 2019.
Trong phần trình bày ở ngày thứ hai của hội nghị, Ward Cates của Tổ Chức Sức Khỏe Gia Đình Quốc Tế (Family Health International) đã nhấn mạnh sự khác biệt về tính hiệu quả của các biện pháp dự phòng khi được lượng giá trong các điều kiện thử nghiệm lý tưởng và trong thực tế cuộc sống.
Ward Cates lấy việc sử dụng BCS làm ví dụ, ông nói tỉ lệ chuyển từ không nhiễm sang nhiễm HIV ở một cặp vợ chồng luôn sử dụng bao cao su mà một trong hai người có HIV là 0,5% trong một năm. Nhưng tỉ lệ này ở những cặp chỉ ‘đôi khi’ mới dùng BCS là 5,1% không ít hơn nhiều so với ở các cặp không bao giờ sử dụng BCS (6,5%).
Ông tính ra tỉ lệ chuyển từ HIV âm sang dương tính (trong điều kiện sử dụng tối hảo) sau 10 năm luôn sử dụng BCS với bạn tình bị nhiễm chỉ ở mức 5%. Nếu dùng chất khử khuẩn – do chất này được tiên liệu có hiệu quả kém – tỉ lệ chuyển HIV dương tính có thể lên đến 40%.
Tuy nhiên sau một thập kỷ áp dụng một trong hai phương pháp trên (BCS hoặc thuốc khử khuẩn) trong điều kiện thực tế thì 70 đến 75% bạn tình có thể bị nhiễm.
Ngược lại, với các biện pháp dự phòng đòi hỏi chỉ ‘can thiệp một lần’ chứ không cần kéo dài thì hầu như không có khác biệt giữa sử dụng trong điều kiện tối hảo và điều kiện bình thường. Những ‘can thiệp một lần’ như vậy có thể gồm một vắc xin hay, như tin trình bày trong hội nghị, phẫu thuật cắt da qui đầu. Cates kêu gọi quan tâm nhiều hơn đến việc phát hiện sớm HIV. Trong trường hợp dịch tập trung, ông nói, truy tìm HIV sớm khi chưa có chuyển đổi huyết thanh bằng kỹ thuật PCR là một cách để cắt vòng xoắn nhiễm bệnh.
Trường hợp dịch lan rộng, trong điều kiện tần suất quan hệ tình dục ít nhất cũng quan trọng như số bạn tình, thì thông điệp dự phòng cần nhấn mạnh đến tính chung thủy như một chiến lược hàng đầu.
Bernard Schwarzlnder của Tổ chức y tế thế giới cũng nêu những khó khăn về y đức và thực tiễn trong việc áp dụng các thử nghiệm dự phòng HIV. Ông nêu ra 5 khó khăn chính:
- Con người: Liệu những người chúng ta quyết định đưa vào làm đối tượng nghiên cứu thử nghiệm có bị loại ra khỏi một can thiệp thử nghiệm tốt hơn được thực hiện sau này không (chẳng hạn như thử nghiệm dùng một liều duy nhất tenofovir thay vì dùng nevirapine để dự phòng lây truyền mẹ – con)?
- Các thử nghiệm dự phòng đôi khi được dẫn dắt bằng các niềm tin về chính trị và tôn giáo. Ví dụ như, đơn giản là chúng ta không biết được đóng góp của bao cao su (BCS) trong việc làm giảm tỉ lệ hiện nhiễm HIV ở Uganda. Các thử nghiệm về những phương cách làm tăng sử dụng BCS – hoặc những thử nghiệm về các giải pháp thay thế BCS như kiêng không quan hệ tình dục – có thể bỏ qua một can thiệp hữu hiệu trong khi tạo ra một sự khác biệt không quan trọng đối với một can thiệp ít hiệu quả hơn.
- Sự kỳ thị: Chúng ta phải chịu trách nhiệm như thế nào đối với các hậu quả xấu trên những người phát hiện bị nhiễm HIV sau khi đưa vào thử nghiệm?
- Điều trị: Việc xuất hiện các thuốc kháng retrovirus làm cho vấn đề càng rắc rối thêm; các thử nghiệm dự phòng đã bị ngưng vì chúng không được tài trợ để điều trị cho người nhiễm HIV ở giai đoạn sàng lọc. Các nhà nghiên cứu phải thương lượng với các chính phủ và tổ chức phi chính phủ để xin tài trợ cho việc điều trị khi những thử nghiệm dự phòng mới bắt đầu.
- Chúng ta phải làm gì với các chương trình can thiệp chỉ đem lại lợi ích cho số ít trong cộng đồng? Chẳng hạn như, cắt bao qui đầu có lẽ chỉ có lợi cho đàn ông có QHTD khác giới chưa bị nhiễm HIV. Phải làm gì nếu ảnh hưởng kế tiếp của cắt bao qui đầu là làm mất phản xạ tình dục ở những người đàn ông bị cắt? Có nên cắt bao qui đầu ở những người đã bị nhiễm HIV không; hay là những ông đó đi cắt bao qui đầu để cho ‘trông có vẻ an toàn’?
PHÚC HẬU
Dịch từ bài Prevention is the new ‘treatment’ của Gus Cairns, đăng trên bảng tin của mạng AIDSmap.com, 7/9/2005
|