Tiến sĩ Yvonne A. Maldonado ở Đại học y khoa Stanford và một số đồng nghiệp thuộc Bộ Phận Nghiên Cứu HIV trên Trẻ Em ở California vừa công bố kết quả của một nghiên cứu mới cho thấy việc đìều trị cho trẻ nhiễm HIV dưới 3 tháng tuổi có hiệu quả tốt hơn là điều trị muộn.
Nghiên cứu này được đăng tải trên chuyên san của hiệp hội y học Hoa Kỳ (JAMA). Các tác giả đã mô tả khuynh hướng tiến triển sớm của nhiễm HIV về mặt thời gian ở 205 trẻ được sinh ra trong giữa 2 năm 1998 và 2001 bằng cách theo dõi hồ sơ bệnh án từ lúc sinh đến khi trẻ được 3 tuổi. Khoảng hai phần ba số trẻ được điều trị thuốc kháng retrôvirút (ART). Khi được 3 tuổi, 81 trẻ ở giai đoạn toàn phát bệnh AIDS. Việc không được điều trị ART làm tăng nguy cơ tiến triển sớm từ HIV đến AIDS.
Trong 23 trẻ được điều trị bằng 3 thứ thuốc kháng retrôvirút (2 thuốc ức chế protease và 1 thuốc ức chế men sao chép ngược nonnucleoside) không có bé nào bệnh trở nặng (advaced disease).
Các tác giả nhận thấy ngay cả khi chỉ dùng 1 hoặc 2 thứ thuốc cho trẻ 2 tháng tuổi (không đợi đến 3 hoặc 4 tháng) cũng giúp trì hoãn tiến triển và giảm độ trầm trọng của bệnh. Tuy nhiên, vì điều trị quá sớm cũng có nhiều khiếm khuyết nên các nhà nghiên cứu cũng khuyến cáo là nên tiến hành các thử nghiệm lâm sàng tiền cứu trên diện rộng để thấy rõ hơn sự khác biệt giữa điều trị sớm và điều trị muộn.
Một nghiên cứu thứ hai về thời điểm khởi phát điều trị cho trẻ em cũng được đăng trên tạp chí JAMA cho thấy có thể cần phải thay đổi chế độ điều trị; nhất là đối với các trẻ không được cho dùng thuốc ức chế protease hoặc các trẻ được điều trị muộn.
Trong nghiên cứu này, bác sĩ Susan Brogly và các cộng sự ở trường Đại Học Y Tế Công Cộng Havard đã khảo sát các thay đổi trong việc điều trị HIV cho trẻ em ở Hoa Kỳ được sinh ra từ năm 1987 đến 2003. Qua hồi cứu các tác giả nhận thấy kể từ khi phác đồ điều trị được ban hành vào năm 1998 thì 22% trong số 766 trẻ trong nghiên cứu đã được cho điều trị không theo phác đồ khuyến cáo. Trong số 753 trẻ được điều trị thuốc kháng retrôvirút có tới 606 trẻ bị đổi chế độ điều trị.
“Sau khi hiệu chỉnh kết quả nghiên cứu theo tuổi và năm dương lịch bắt đầu điều trị, chúng tôi thấy rằng khi điều trị bằng các phác đồ cũ (gồm 1 hoặc 2 thứ thuốc ức chế men sao chép ngược nucleoside) thì khả năng đổi phác đồ điều trị cao hơn là khi dùng phác đồ mới,” các nhà nghiên cứu nói.
Bác sĩ Susan còn nói thêm: “đối với các trẻ được điều trị muộn khi hệ miễn dịch đã suy sụp thì càng cần phải sớm đổi qua phác đồ khác. Đây là điều mấu chốt vì càng sử dụng nhiều thuốc thuộc các nhóm khác nhau hoặc thuốc đặc trị thì càng dễ xảy ra kháng thuốc nếu uống không đúng theo chỉ định của bác sĩ. Việc đổi chế độ điều trị có thể làm giảm thiểu các lựa chọn điều trị trong tương lai.”
Trong một bài xã luận song đăng song hành với 2 nghiên cứu trên, tiến sĩ Ram Yogev thuộc bệnh viện nhi Memorial ở Chicago lưu ý rằng: “ Trong khi chúng ta có thể vui mừng vì hiệu quả to lớn của việc điều trị HIV bằng thuốc kháng retrôvirút hoạt lực cao (HAART) đem lại, thì điều quan trọng hơn đối với chúng ta là phải ưu tiên cho các nghiên cứu về tính sống còn của những người hiện đang sống với chứng nhiễm trùng mạn tính này.”
TPH
Trích dịch từ “Temporal Trends in Early Clinical Manifestations of Perinatal HIV Infection in a Population-Based Cohort,” “Antiretroviral Treatment in Pediatric HIV Infection in the United States,” and “Balancing the Upside and Downside of Antiretroviral Therapy in Children”. JAMA (2005;293(18):2221-2231, 2213-2220, and 2272-2274.
|