|
|
|
 |
|
|
 |
ĐIỀU TRỊ KHÁNG RETROVIRUS CHO NHỮNG NGƯỜI
BỊ NHIỄM HIV – CÁC KHUYẾN NGHỊ
Hội nghị các chuyên gia năm 1997 đã đưa ra một loạt các khuyến nghị liên quan đến việc chịu trách nhiệm về công tác điều trị chống lại các Retrovirus cho những người bị nhiễm HIV ở châu Phi. Ở thời kỳ đó nhiều viện nghiên cứu và tổ chức phòng chống AIDS của châu Phi và quốc tế đã được huy động tham gia như: ANRS (Cơ quan quốc gia của Pháp về nghiên cứu SIDA), IMEA (Viện Y học và Dịch tễ của châu Phi), IRD (Viện nghiên cứu về sự phát triển), Hiệp hội phòng chống SIDA của châu Phi, các chương trình quốc gia phòng chống SIDA của Sénégal và Côte d’Ivoire, ONUSIDA (Tổ chức SIDA của Liên hiệp quốc), Hiệp hội phòng chống SIDA quốc tế (International AIDS Society ).
Để cập nhật hoá các khuyến nghị, các Viện nghiên cứu và tổ chức phòng chống SIDA nói trên đã họp lại tại hội nghị được tiến hành ở Dakar trong 2 ngày 14-15/10/2000 bao gồm 60 chuyên gia của 12 nước châu Phi và châu Âu.
CÁC KHUYẾN NGHỊ CỤ THỂ NHƯ SAU:
- Phải thực hiện mọi nỗ lực để đảm bảo cho những người đã nhiễm HIV được tiếp cận điều trị kháng Retrovirus có sự chỉ định phù hợp với thực trạng của những hiểu biết về y học.
- Việc chỉ định điều trị kháng Retrovirus đòi hỏi một cách xác đáng, được tin cậy, có sự tài trợ lâu dài, trong một mạng lưới phân phối và cung cấp thuốc hoạt động có hiệu quả.
- Việc chỉ định điều trị kháng Retrovirus trong một nước phải được lồng ghép vào một chương trình quốc gia hoạt động phòng chống AIDS. Các hội y học và y tế tư phải được thông tin đầy đủ.
- Hoạt động điều trị kháng Retrovirus phải lồng ghép trong một chương trình tổng thể đặc biệt bao gồm sự tự nguyện xin được chẩn đoán nhiễm HIV, dự phòng và điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội (chủ yếu là lao, nhiễm nấm candida, và những bệnh nấm khác), cũng như phát hiện lao, ung thư cổ tử cung và khối u sarcoma kaposi. Về vấn đề phòng bệnh bằng cotrimoxazole, các chuyên gia nhắc nhở đây là đối tượng của hội nghị đã được thoả thuận của châu Phi hồi tháng 3/2000. Có triệu chứng hay không triệu chứng, các đối tượng bị nhiễm HIV (trẻ em hay người lớn) phải được thụ hưởng vấn đề này. Việc phòng này có thể được hoãn đối với những người trưởng thành có số lượng tế bào CD4 > 500 tế bào /mm³.
- Chính sách mua và phân phối (miễn phí) thuốc điều trị kháng Retrovirus phải được lồng ghép trong chính sách chung về thuốc của quốc gia. Chất lượng thuốc điều trị kháng rero vi-rút phải được bảo đảm bất luận từ nguồn gốc nào, là dược phẩm công nghệ hay chất liệu di truyền. Các thuốc chữa bệnh, hóa chất xét nghiệm phải được bán với giá mà đa số bệnh nhân có thể tiếp cận để được điều trị. Chủ yếu đối với những quốc gia thuộc khối NAM là phải chuẩn bị các loại thuốc kháng Retrovirus khác nhau vẫn được sử dụng ở các quốc gia thuộc khối BẮC để sao cho các nước khối Nam cũng được thụ hưởng nhiều dạng thuốc khác nhau về thể loại phục vụ cho công tác điều trị các thể bệnh trên lâm sàng. Việc đăng ký điều trị kháng Retrovirus bằng các thuốc thiết yếu phải được khích lệ.
- Phải tuân thủ chặt chẽ quy tắc điều trị liên tục để việc điều trị kháng Retrovirus đạt hiệu quả. Để giải quyết vấn đề này, quan trọng là cần có sự tham gia của cộng đồng, và hội những người nhiễm HIV vào hoạt động tham vấn do các thầy thuốc, dược sĩ và các trợ lý xã hội có nhiều kinh nghiệm thực hiện.
- Độ xác thực của chẩn đoán huyết thanh đối với nhiễm HIV là điều kiện tiên quyết cần thiết để chỉ định việc điều trị kháng Retrovirus. Ở người trưởng thành, việc sử dụng 2 test khác nhau (Elisa và/ hoặc test nhanh) là cần và đủ. Ở trẻ <15 tuổi, việc chẩn đoán dựa trên sự phát hiện vi-rút; ở trẻ >15 tuổi, sự tồn tại kéo dài hiện tượng huyết thanh dương tính ghi nhận sự nhiễm trùng. Thực hành y đức trong chẩn đoán nhiễm HIV cần luôn luôn tôn trọng: phải được sự đồng ý rõ ràng ở người trưởng thành và ở cha mẹ trẻ khi cần phải tiến hành chẩn đoán cho con em họ.
- Việc chỉ định điều trị kháng Retrovirus phải giới hạn ở các trung tâm chăm sóc hội đủ các điều kiện kỹ thuật (như cung cấp thuốc, đào tạo cán bộ, khả năng tiếp cận với kỹ thuật). Việc tham gia của khu vực tư nhân phải phù hợp với chính sách thuốc và những điều kiện thực tế được khuyến nghị bởi Bộ Y tế.
- Việc chỉ định điều trị kháng Retrovirus và theo dõi điều trị phải được đảm bảo bởi các thầy thuốc có kinh nghiệm về các lĩnh vực này. Điều này tất nhiên đòi hỏi phải đào tạo các nhân viên y tế hiện tại và tương lai- các thầy thuốc, các nhà sinh học, dược sĩ, thầy thuốc cận lâm sàng - nhưng cũng phải đào tạo cả những người làm công tác tham vấn. Ngoài các phương diện sinh y học, việc đào tạo còn phải tiếp cận các lĩnh vực tâm lý học, xã hội học và những đòi hỏi về sự tin cậy tâm tính có liên quan đến việc điều trị. Nhờ có đào tạo đặc biệt và sự tiếp xúc thân thiết với các nhân viên y tế, Hiệp hội những người bị nhiễm HIV có vai trò quan trọng trong việc thông tin cho người bệnh (khả năng tiếp cận điều trị, các thể thức trách nhiệm tài chính …). Vai trò của truyền thông là rất quan trọng. Các nhà báo phải được thông tin các sáng kiến thực hiện tại chỗ.
- Trong công tác điều trị cần phải có một cơ sở kỹ thuật đủ để cho phép xác định những chống chỉ định trong điều trị và các tác dụng phụ. Thử nghiệm huyết đồ, định lượng transaminase và định lượng créatinine huyết thanh, xét nghiệm dải nước tiểu (glucose, protéine) và đếm lympho bào CD4 đều cần thiết cho việc điều trị kháng Retrovirus. Việc đếm CD4 theo định kỳ 6 tháng là cần thiết để đánh giá hiệu quả của điều trị kháng Retrovirus. Những theo dõi này là cần thiết để biết sự khôi phục đáp ứng miễn dịch, sự thiếu vắng của tăng hay giảm tỷ lệ % CD4 ở tháng thứ 6 đã được khẳng định ở mẫu xét nghiệm lần 2 và không có một lý do nào khác như bệnh lao đang tiến triển, thì sự thay đổi trong điều trị phải được đảm bảo. Để đếm các tế bào CD4, việc sử dụng các kỹ thuật xen kẽ nhờ máy đếm tế bào bởi kỹ thuật huỳnh quang (cytofluorométrie) là đơn giản, không đắt tiền cần được khuyến khích. Cho dù là điều mong muốn nhưng cũng không cần thiết phải đánh giá hàm lượng vi rút để khởi đầu cho việc điều trị. Ngược lại, để đánh giá hiệu quả của điều trị, có thể thực hiện đo hàm luợng vi rút tối đa 2 lần trong một năm. Việc phổ biến kỹ thuật này phải được khuyến khích.
- Ở người trưởng thành có triệu chứng ở giai đoạn AIDS (nhóm C, theo phân loại của CDC, 1993) việc điều trị kháng Retrovirus đã được hướng dẫn độc lập với số lượng CD4. Trong trường hợp lao ở các bệnh nhân suy giảm miễn dịch nhẹ, số lượng CD4 là tiêu chuẩn chỉ định điều trị kháng Retrovirus. Cũng vậy, đối với các bệnh nhân không có triệu chứng thuộc nhóm A, việc điều trị kháng Retrovirus là dành cho những người có số lượng CD4< 200/mm³.Đối với những bệnh nhân có số lượng giữa 200-350 CD4, việc điều trị có thể được đảm bảo dựa trên các chứng cứ lâm sàng (các dấu hiệu của nhóm B) hoặc miễn dịch ( sự giảm nhanh CD4 chứng thực cho việc kiểm tra rất gần nhau theo định kỳ cứ mỗi 4 tháng thay vì là 6 tháng). Đối với các bệnh nhiễm trùng cơ hội ở dạng hoạt động phải được xử trí ưu tiên, việc điều trị kháng Retrovirus thông thường được hoãn lại cho tới khi tình trạng bệnh nhân được cải thiện. Những tiêu chuẩn để đưa vào điều trị các bệnh nhân bị nhiễm HIV-2 hoặc đồng nhiễm HIV-1-HIV-2 cũng là những tiêu chuẩn như đối với nhiễm HIV-1. Do tính chất tiến triển rất chậm của loại nhiễm trùng này, nên việc theo dõi tỷ lệ CD4 có thể được đề nghị tiến hành hàng năm trước khi đưa vào điều trị.
- Trường hợp phải chỉ định điều trị kháng Retrovirus đối với bệnh nhân lao cần bảo đảm 3 chiến lược có tính đến sự phản ứng của thuốc và phàn nàn của bệnh nhân. Những chiến lược đó là :
- Lùi việc điều trị kháng Retrovirus vào thời kỳ cuối của điều trị chống lao.
- Điều trị ngay lập tức với 2 NRTI và 1 NNRTI (trong trường hợp dùng Rifampicine, người ta tăng liều lượng hàng ngày của Efavirenz tới 800mg) hoặc 3NRTI.
- Lùi việc điều trị kháng Retrovirus chậm lại 2 tháng có nghĩa là việc điều trị này sẽ chỉ bắt đầu vào lúc chuyển sang giai đoạn duy trì của điều trị lao (Isoniazide + ethambutol).
- Phương pháp tam trị liệu (trithérapie) làphương pháp điều trị chuẩn thức nhiễm HIV ở người trưởng thành và trẻ em. Phương pháp tam trị liệu với chủ định trước tiên bao gồm 2 NRTI +1IP hoặc là 2NRTI +1NNRTI có hiệu quả có thể so sánh được. Tuy nhiên việc kết hợp 2NRTI+1NNRTI đã được thoả thuận là ưu tiên bởi lẽ có sự dung nạp tốt hơn và chi phí ít tốn kém hơn. Nhưng các NNRTI không có tác dụng chống lại HIV-2. Cuối cùng, phương pháp tam trị liệu với 3NRTI là hữu ích nhưng có thể ít hiệu quả đối với điều trị vi-rút cho những bệnh nhân đã ở giai đoạn tiến triển của bệnh. Sẽ ích lợi nếu thúc đẩy sự kết hợp của các chất ức chế men protéase là những chất cho phép kéo dài khoảng cách giữa các liều điều trị, giảm bớt các phiền toái trong ăn uống kiêng khem và làm giảm giá thành của điều trị. Vì lý do độc tính và tác dụng bị hạn chế của hydroxyuré nên việc sử dụng loại hoá dược này đã không được chỉ định.
- Việc ngăn ngừa sự lây nhiễm ngẫu nhiên trong y tế có tính chất nghề nghiệp dựa trên sự đào tạo, thông tin, giám sát và vận dụng những phương pháp phòng tránh thông thường ở những cơ sở chăm sóc. Việc phòng bệnh sau khi phơi nhiễm HIV phải bao gồm đảm bảo được tiếp cận nhanh chóng và miễn phí đối với thuốc kháng Retrovirus trong khuôn khổ các quy định đã được soạn thảo bởi mỗi quốc gia.
- Việc điều trị kháng Retrovirus của phụ nữ có thai để phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con phải được xem là ưu tiên. Sẽ căn cứ vào những chỉ định điều trị cho người lớn để hướng dẫn việc điều trị kháng Retrovirus cho người mẹ sau khi sinh. Những bà mẹ cho con bú phải được thông tin về các nguy cơ truyền vi rút từ mẹ sang con. Việc cho bú nhân tạo phải được ưu đãi nhờ khả năng tiếp xúc dễ dàng với sữa bột. Nếu những điều kiện kinh tế - xã hội hoặc sự từ chối của bà mẹ không cho phép dùng sữa bột, việc cai sữa sớm, hoàn toàn ( ở trẻ từ 4 hoặc 6 tháng tuổi) được khuyên dùng để tránh sự cho bú hỗn hợp mà những nguy cơ cũng đã thường được báo cáo. Việc lựa chọn cuối cùng để cho bú tự nhiên hay nhân tạo thuộc về người mẹ và sẽ được tôn trọng. Trường hợp mang thai xảy đến ở người mẹ trong điều kiện áp dụng phương pháp tam trị liệu, việc điều trị ban đầu phải được duy trì nếu sự chỉ định phù hợp với các tiêu chuẩn điều trị cho người lớn. Gần đây người ta đã chỉ ra rằng một số thuốc kháng Retrovirus (didanosine, stavudine, névirapine hay éfavirenz) phải được dùng với sự thận trọng trong lúc mang thai.
- Sau khi sự chẩn đoán nhiễm trùng được khẳng định, việc điều trị cho trẻ em phải dựa vào lứa tuổi của chúng.
Trước 3 tháng tuổi, phương pháp tam trị liệu phải được thiết lập cho những đối tượng có triệu chứng biểu hiện suy giảm miễn dịch ( CD4< 25%).
Sau 3 tháng, phương pháp tam trị liệu được hướng dẫn ở mọi trẻ em có triệu chứng. Đối với trẻ không có triệu chứng mà có tỷ lệ CD4> 15% thì không cần phải điều trị. Trong trường hợp có thể đo được nồng độ vi-rút, mọi giá trị đạt hơn 100.000 bản sao/ml thì áp dụng phương pháp tam trị liệu là chỉ định ưu tiên. Bất luận là nguyên nhân nào, việc vận dụng điều trị kháng Retrovirus phải được kèm theo trách nhiệm theo dõi toàn thân của trẻ về các mặt tâm lý, dinh dưỡng và tiêm chủng cũng như phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng cơ hội bằng cotrimoxazole.
- Các hiệp hội và chương trình quốc gia về HIV/AIDS phải thông tin cho cộng đồng về lợi ích và những hạn chế của điều trị kháng Retrovirus . Cần nhấn mạnh để mọi người đều hiểu rằng vấn đề AIDS không thể chỉ giải quyết bằng trị liệu kháng Retrovirus. Cần sử dụng mọi phương pháp truyền thông đại chúng vào sự quảng bá giáo dục này.
- Việc chỉ định và sử dụng liệu pháp kháng Retrovirus ở châu Phi đòi hỏi sự huy động mạnh mẽ các phương tiện nhân lực, vật lực, tài lực. Cần thiết phải tiến hành những công trình đánh giá, nghiên cứu đặc biệt tập trung vào những trọng điểm dưới đây:
Về hành động: Phải dựa vào hoàn cảnh dịch tễ học, vào đánh giá các nhu cầu về biện pháp chống Retrovirus, những phân tích các cơ chế tài chính, hệ thống phân phối các thuốc kháng Retrovirus, giá cả/ tác dụng, xác định những yếu tố ngoài luật lệ quy định.
Về lâm sàng: Nghiên cứu các tác dụng phụ của thuốc kháng Retrovirus, những phản ứng của thuốc trong bối cảnh bệnh lý phối hợp.
Về vi rút học: Đánh giá tính nhạy cảm kiểu gien đối với thuốc kháng Retrovirus qua hệ thống nghiên cứu trọng điểm, đánh giá ích lợi của việc xác định hàm lượng vi rút trên thực địa…
Về y tế công cộng và kinh tế trong y tế: Nghiên cứu khả năng tiếp cận với thuốc kháng Retrovirus dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội của bệnh nhân, nghiên cứu về tác động của sự tiếp cận với chăm sóc y tế, về sự phát hiện và về công tác dự phòng…
Về tâm lý - xã hội: Nghiên cứu tác động của tiếp cận với biện pháp chống Retrovirus trên các mặt kiến thức, thái độ, hành vi đối với AIDS, về chất lượng cuộc sống của các bệnh nhân, về vốn sống cá nhân của những người có huyết thanh dương tính…
HẠ BÁ KHIÊM
(Theo tài liệu của ANRS, Cơ quan quốc gia nghiên cứu SIDA của Pháp)
|
|
 |
|
|