Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
Thời sự y học
 

LỜI GIỚI THIỆU 14

ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG

 

Nhiễm các vi khuẩn:

Bệnh lao trên bệnh nhân nhiễm HIV được điều trị theo phương thức chuẩn bằng isoniazid và riphampicin phối với hoặc pyrazinamide hoặc ethambutol. Rifampicin là một chất dẫn khởi men mạnh và làm tăng chuyển hóa của những thuốc như thuốc ngừa thai dạng uống, dapsone, fluconazole, ketoconazole, và thuốc chống co giật. Các nhà lâm sàng cũng nên biết về sự tương tác giữa các loại rifamycin (rifampicin và rifabutin) với thuốc kháng siêu vi, đặc biệt là những chất ức chế protease và ức chế sự giải mả ngược không nucleoside. Một số phối hợp giữa các chất này bị chống chỉ định hay cần phải điều chỉnh lại liều đề duy trì được nồng độ thuốc ở ngưỡng điều trị. Sự hiểu biết về các tương tác có thể có này là rất cần thiết nhằm tránh đánh mất hiệu quả cuả thuốc trên lâm sàng hay tăng nguy cơ bị ngộ độc thuốc.

Mặc dù các bệnh ngoài phổi thường gặp ở những bệnh nhân có huyết thanh dương tính với HIV hơn là nhóm chứng không bị nhiễm HIV, đáp ứng điều trị lại có vẻ tương tự nhau giữa hai nhóm ớ các nước phát triển, với điều kiện là người bệnh tuân thủ điều trị. Trong những năm vừa qua, có những đợt bùng phát bệnh lao đa kháng thuốc tạo Hoa kỳ và Âu châu, trong đó có cả Anh quốc. Sự lan truyền các dòng vi chuẩn kháng thuốc này đã xảy ra giữa những bệnh nhân với nhau, rồi từ những người bệnh lan sang người thân trong gia đình họ, lan đến những nhân viên chăm sóc sức khỏe, và những người cai ngục. Tử vong do bệnh lao kháng thuốc trong nhóm này rất cao, vào khoảng 70-90%. Để làm giảm bớt nguy cơ bệnh lao đa kháng thuốc, điều chủ yếu là cần phải bảo đảm sự tuân thủ điều trị của các bệnh nhân và cung cấp sẵn cho nhân viên sức khỏe các phương tiện và phương thức nhằm giảm sự lan truyền trong bệnh viện.
Nhiễm phức hợp Mycobacterium avium lan tỏa gây ra bệnh suất và tử suất đáng kể trong các giai đoạn trễ của nhiễm HIV. (khi số lượng CD4 hằng định dưới 50x106/l). Nhiều phối hợp thuốc khác nhau đã được chứng minh trong các nghiên cứu không có nhóm chứng là làm giảm vi khuẩn lao trong máu và cải thiện triệu chứng.
Phòng ngừa tiên phát đã được chứng minh là làm giảm đáng kể tần suất mới mắc du khuẩn huyết phức hợp M avium và biện pháp này nên được xem xét cho những bệnh nhân có số lượng CD4 dưới 75x x106/l. Nhiều thuốc khác nhau đã được chứng tỏ có hiệu quả, trong đó bao gồm rifabutin 300 mg mỗi ngày, clarithromycin 500mg hai lần mỗi ngày, hoặc azithromycin 1200mg một lần mỗi tuần. Những chủng đề kháng có thể xảy ra trên những bệnh nhân dùng clarithromycin và azithromycin phòng ngừa, khi đó họ bị nhiễm trùng huyết bùng phát, và có sự kháng thuốc chéo. Sự phối hợp giữa azithromycin một lần mỗi tuần và rifabutin hàng ngày có lẽ là chế độ phòng ngừa hiệu quả nhất và còn có thể phòng ngừa thêm viêm phổi do Pneumocystis carinii .
Nhiễm Salmonella được điều trị với hoặc co-trimoxazole hoặc ciprofloxacin và campylobacter thì điều trị với ciprofloxacin. Đối với nhiễm salmonella thì những đợt tái nhiễm viêm ruột hay du khuẩn huyết thường gặp.


Điều trị phức hợp Mycobacterium avium
Clarithromycin 1-2g mỗi ngày chia làm nhiều lần trong ngày
+
Ethambutol 15mg/kg/ngày mỗi ngày
+
một trong các thuốc sau: rifabutin 45-600mg mỗi ngày
Rifampicin 45-600 mỗi ngày
Ciprofloxacin 500 mg hai lần/ngày
Clofazimine 100mg mỗi ngày
Phác đồ 3 hay 4 thuốc thì được khuyến cáo.

LÊ TỰ PHƯƠNG THÚY
Theo IV D Weller, I G William, ABC of AIDS Treatment of infections, BMJ Vol. 322 June 2001

 

 

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419