Đưa các dịch vụ CCC và VCT vào BVDL TP.HCM: xác lập ưu tiên mới để đối phó với sự gia tăng dịch HIV và nghiện chích ma túy (NCMT) ở Việt Nam
Sự chồng chéo bất thường giữa nghiện chích ma tuý (NCMT) và mãi dâm đã làm trầm trọng thêm dịch HIV mà nay đã lan khắp 64 tỉnh thành ở Việt Nam. Những người tiêm chích ma túy phần lớn còn trẻ và rất thường không sử dụng bơm kiêm tiêm sạch (Hình 1).
Hình 1. Giám sát trọng điểm HIV ở người NCMT, phụ nữ mãi dâm (PNMD) và bệnh nhân bệnh lây truyền qua đường tình dục (BN STI) ở phía nam Việt Nam, 1994-2005

%
Tại TP.HCM, các nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy rằng vào các năm 2001 (n=800), 2002 (n=306), 2003 (n=381) và2004 (n=357) tỷ lệ PNMD tiêm chích ma túy theo thứ tự là 19%, 20.9%, 11.1% và 9.1%. Trong thời kỳ đó, tỷ lệ hiện mắc HIV (+) ở PNMD tiêm chích ma túy theo thứ tự là 82.2%, 76.6%, 59.5% và 74.2%, trong khi ở PNMD hút hít ma túy tỷ lệ hiện mắc HIV (+) thấp hơn: theo thứ tự là19.2%, 43.8%, 10.5% và 31.3% và tỷ lệ đó còn thấp hơn nữa ở PNMD không sử dụng ma túy: theo thứ tự là 11.3%, 11.5%, 4.7% và 6.5%. Một nghiên cứu trên 897 PNMD ở 5 tỉnh biên giới vào năm 2002 phát hiện rằng tỷ lệ sử dụng bao cao su (BCS) thường xuyên biến thiên từ thấp đến cao theo thứ tự ở bạn tình sống chung, các bạn tình thường xuyên khác, khách hàng thường xuyên và không thường xuyên. Sử dụng BCS thường xuyên với khách hàng thường xuyên ít hơn 50%. Chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS 2005-2010 và tầm nhìn 2020 đã được ban hành trong đó phòng chống STI là một trong 9 chiến lược kỹ thuật.
Các can thiệp về hành vi sử dụng lý thuyết khoa hành vi học nhằm làm giảm mắc và lây truyền STI/HIV đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược này. Những chương trình phòng chống STI/HIV cấp tỉnh của chúng ta cần nhắm tới những hành vi và hoàn cảnh đã gây nên phần lớn những nhiễm khuẩn mới.
Đồng yếu tố STI hay sự tương tác STI-HIV có thể được tóm lược như sau:
- STI làm gia tăng nguy cơ nhiễm HIV lên 2-11 lần
- Chẩn đoán và điều trị STI ở những bệnh nhân đã bi nhiễm HIV làm giảm nguy cơ lây truyền của họ
- Chẩn đoán và điều trị STI ở những người có nguy cơ nhiễm HIV có thể làm giảm nguy cơ mắc phải HIV
- Phòng chống STI là một phương pháp hữu hiệu làm giảm sự lan truyền HIV trong vùng mới có dịch HIV và có tỷ lệ STI cao
- Đừng quên, BCS phòng ngừa cả lây truyền và mắc HIV & STI
Trong quản lý trường hợp STI chúng ta cần khẩn trương nâng cấp các dịch vụ Bạn tình, Tham vấn và Giới thiệu (Partner, Counseling and Referral Services – PCRS). Điều đó có nghĩa là một mạng dịch vụ tự nguyện, đảm bảo bí mật sẵn sàng cho những người bị STI/HIV và bạn tình và/hay chia sẽ bơm kim tiêm của họ như là một bộ phận không thể thiếu của một chương trình phòng chống STI/HIV toàn diện.
Quản lý trường hợp STI gồm 8 bước tương tác: (1) Hỏi bệnh sử, (2) Khám bệnh, (3) Chẩn đoán (Căn nguyên hay hội chứng), (4) Điều trị công hiệu, (5) Tham vấn (giảm nguy cơ), (6) Giới thiệu và điều trị bạn tình, (7) Theo dõi điều trị và 8) Báo cáo trường hợp bệnh. Tuy nhiên, các bước (1), (5), (6) and (7) thường không được làm hoăc thực hiện chiếu lệ .
Làm cho xét nghiệm HIV trở thành một bộ phận thường qui của chăm sóc y khoa và mở rộng xét nghiệm HIV ra ngoài các dịch vụ y khoa truyền thống cũng nằm trong số những chiến lược nhằm làm giảm sự lan truyền HIV. Hàng năm, BVDL TP. HCM thực hiện hơn 6.000 xét nghiệm HIV với hơn 5% dương tính. Đảm bảo tham vấn tối thiểu trước và sau xét nghiệm HIV vẫn còn là một thách thức thực sự.
Từ 2004, trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Bộ Y Tế Việt Nam và CDC Mỹ (LIFE-GAP), một dịch vụ xét nghiệm tham vấn HIV tự nguyện (VCT) đã được thiết lập ở BVDL TP. HCM. Vào các ngày 26-29 tháng Chín 2006 này, tại TP. HCM, một hội thảo mỗi hai năm cho màng lưới da liễu về “ Giảm nguy cơ thông qua tham vấn tập trung vào khách hàng - Risk Reduction through Client-Centered Counseling (CCC)” do Norwegian Mission Alliance (NMA) và Đại Học San Francisco (UCSF) đồng tài trợ và được các giảng viên từ UCSF, CDC Mỹ và Việt Nam hướng dẫn. Không còn nghi ngờ gì nữa, tất cả chúng ta đều nhiệt tình nhận thức rằng có thể và phải làm nhiều hơn nữa để kiểm soát dịch HIV trong khu vực của chúng ta. Để tiến tới gần hơn những gì chúng ta mong đạt đến, hội thảo này đã rất được mong đợi. Vậy chúng ta hãy tập trung sự chú ý vào nhiệm vụ tương lai của chúng ta tại hội thảo này.
Kinh nghiệm của BVDl TP. HCM về phối hợp các dịch vụ STI và VCT
Sau gần 3 năm hoạt động của dịch vụ VCT ở BVDL TP.HCM, vài kinh nghiệm có thể sơ bộ được rút ra.
- Không chỉ cần phải làm thích nghi mô hình VCT kinh điển để đáp ứng các yêu cầu của những hoàn cảnh khác nhau của khách hàng mà còn phải làm cho mô hình VCT chuẩn thích nghi với tình hình của một bệnh viện chuyên khoa như thế. Hơn 37 điểm VCT của những bệnh viện/trung tâm chuyên khoa, OPC quận huyện, trung tâm 05-06… tại TP.HCM hiện nay không thể tuyệt đối rập khuôn giống nhau.
- Cần nâng cao năng lực dịch vụ VCT ở các bệnh viện/trung tâm tuyến thành phố để làm nhiệm vụ là các điểm VCT hướng trợ về lãnh vực chuyên khoa có liên quan.
- VCT được lồng ghép hoàn toàn vào phòng khám STI hay ngay cả vào khoa da liễu có sự hỗ trợ của nhà quản lý đơn vị và của tiến trình lập kế hoạch và phát triển dịch vụ VCT được biện minh bởi nguyên tắc công bằng, chi phí/hiệu quả, tính bền vững, giảm thành kiến…

- Các tiện lợi khác của việc liên kết dịch vụ VCT và dịch vụ STI hay ngay cả dịch vụ da liễu bao gồm:
- Đó là những giải pháp cho quá tải trong tham vấn STI và lượng khách hàng thấp ở các điểm VCT.
- Sự liên kết thuận tiện giữa VCT với điều trị và chăm sóc STI cũng như các nhiễm trùng cơ hội da nặng góp phần vào chăm sóc liên tục HIV/AIDS.
- Cùng với các cán bộ cơ hữu được tập huấn để làm tham vấn, tăng cường gắn kết STI-VCT và một biên chế quản lý hành chính được tuyển dụng thêm từ năm 2006 để đảm bảo khâu tiếp đón thỏa đáng đã cải thiện rõ rệt chất lượng của dịch vụ này (Hình 2).
Lồng ghép phòng chống HIV & VCT vào quản lý STI ở Việt Nam, thiết lập liên kết giới thiệu giữa các dịch vụ HIV & STI
Các chương trình STI thường ít quan tâm đến những can thiệp khác hơn là phát hiện và điều trị STI, và ngược lại các chương trình HIV/AIDS cũng thường không quan tâm lắm đến STI. Do đó cần khẩn trương phối hợp chặc chẽ hơn giữa phòng chống HIV, các dịch vụ VCT và các dịch vụ STI.
Tỷ lệ hiện mắc của HIV ở những người đến phòng khám STI thường cao hơn ở quần thể tổng quát một cách có ý nghĩa. Thí dụ ở khu vực phía nam Việt Nam năm 2005, HIV ở người đến phòng khám STI là 6,83%, so với 0,27% ở người đi khám thai (Hình 3).
Hình 3. Giám sát trọng điểm HIV ở thai phụ, nghĩa vụ quân sự và bệnh nhân lao, khu vực phía nam VN, 1994-2005.
Cung ứng VCT ở các phòng khám STI sẽ xác định được những số lượng lớn người nhiễm HIV. Trong những bối cảnh như thế, điều trị, chăm sóc và tham vấn có thể được cung cấp trọn vẹn cho những người có xét nghiệm HIV dương tính. Lý tưởng là luôn có sẵn VCT cho tất cả những người đi khám STI!
Như thế, những lợi ích chính của việc lồng ghép này là:
- Phân xuất phát hiện cao – Cung ứng VCT trong các dịch vụ STI sẽ xác định được nhiều người nhiễm HIV và giúp họ dễ dàng tiếp cận với sự chăm sóc sức khỏe thích hợp.
- Hạ tầng cơ sở đã được thiết lập sẵn bao gồm giới thiệu bạn tình – Trong vài dịch vụ STI có hệ thống giới thiệu và tham vấn bạn tình khá phát triển. Ngoại trừ trong những tình huống được xác định cẩn trọng, trong đó việc tiết lộ tình trạng HIV của một cá nhân cho người khác do luật pháp yêu cầu hay vì những lý do y đức, người bị nhiễm HIV có quyền được giữ bí mật và trong mọi quyết định tiết lộ tình trạng của họ.
- Giảm thành kiến – Nhiều khi người ta cảm thấy tự nhiên khi đến dịch vụ STI hay tốt hơn nữa là dịch vụ da liễu hơn là dịch vụ chuyên về HIV/AIDS (Hình 4)
(Luôn tồn tại một bất lợi: tiếp cận của những người không triệu chứng bị giới hạn)
Hình 4. Cần có những cơ chế giới thiệu hiệu quả giữa các dịch vụ HIV và STI
VCT là ngõ vào để dự phòng HIV/STI , chăm sóc & điều trị ARV
Giới thiệu qua lại giữa VCT và STI
Chương trình STI Hoạt động chung của chương Chương trình AIDS
* Tăng cường phát hiện trình STI và AIDS * BCS
bệnh * ĐTDP CA? * STI
* Quản lý trường hợp bệnh: * Giảm tác hại
(1) Hỏi bệnh sử * Cotrimoxazole
(2) Khám bệnh * Điều trị ARV
(3) Chẩn đoán * Chăm sóc và hỗ
(4)Điều trị trợ HIV/AIDS
(5) Tham vấn * Nhóm đồng đẳng
(6) Giới thiệu bạn tình
(7) Theo dõi
(8) Báo cáo trường hợp bệnh
Đưa dịch vụ VCT vào công tác của các đội lưu động của BVDL vẫn thường xuyên đến chăm sóc STI ở các điểm “nóng” hay các trung tâm 05-06 cũng cần được quan tâm.
NGUYỄN VĂN THỤC
BV. DA LIỄU TP. HCM