Trang chủ  Font  Liên hệ  Tìm kiếm  Check e_mail  English
Giới thiệu
Tin tức
Y tế cộng cộng
Nghiên cứu y học
Đào tạo
Dịch vụ y tế
Vắc xin & Sinh phẩm
Giáo dục sức khỏe
Ấn phẩm
Thời sự y học
 
DỊCH TỄ HỌC BLTQĐTD VÀ NHIỄM HIV Ở KHU VỰC PHÍA NAM VIỆT NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỔI CỘM

 

Với diện tích 5,377.71 km2, khu vực phía nam (KVPN) Việt Nam có dân số khoảng 32,158,688 (2005). Về phương diện hành chính khu vực này gồm 21 tỉnh được chia thành 191 quận/huyện với 2.26 phường xã. Phía tây khu vực giáp với Campuchia, phía nam và phía đông giáp với Vịnh Thái Lan và Biển Đông.
Ở Việt Nam, một hệ thống Da Liễu hoàn chỉnh đã được thiết lập từ trung ương đến tuyến ngoại vi. Mạng lưới da liễu gồm những dịch vụ chuyên khoa da liễu ở tuyến trung ương, tỉnh và quận/ huyện, và hoàn toàn lồng ghép vào y tế đa khoa ở tuyến phường/xã. Phòng chống BLTQĐTD là một nhiệm vụ quan trọng của màng lưới này. Các dịch vụ BLTQĐTD được thiết kế cho phù hợp với hoàn cảnh nguồn lực còn hạn hẹp và được lồng ghép vào hệ thống săn sóc sức khỏe ban đầu. Bệnh nhân được quản lý điều trị theo tài liệu hướng dẫn quốc gia phù hợp với các khuyến cáo của TCYTTG.
Tình hình và khuynh hướng hiện nay của các BLTQĐTD như thế nào? Khó khăn gặp phải trước tiên là đánh giá chính xác bằng số liệu tầm vóc của vấn đề. Khó khăn này là do nhiều hoàn cảnh. Bộ Y Tế ước rằng các phòng khám BLTQDTD nhà nước chỉ điều trị khoảng 10% những trường hợp BLTQĐTD và các nguồn thông tin và thống kê chính là báo cáo định kỳ của các đơn vị da liễu tỉnh. Giám sát trọng điểm các BLTQĐTD chỉ mới được bắt đầu có quyết định thực hiện tại TP. Hồ Chí Minh (TP.HCM), Cần Thơ (CT), An Giang (AG) và Kiên Giang (KG) từ 2003.
Tỷ lệ mới mắc tối thiểu của giang mai và lậu theo theo thứ tự giảm từ 81 và 43 trên 100.000 dân năm 1981 xuống còn 6 và 6 trên 100.000 dân vào năm 2005. Trong cùng thời kỳ, tỷ lệ mới mắc tối thiểu của tất cả BLTQĐTD tăng từ 180 lên 238 trên 100.000 dân (Hình 1). Khuynh hướng này cũng được nhận thấy khi theo dõi tỷ lệ hiện mắc của các BLTQĐTD đó ở phụ nữ mãi dâm (PNMD) cũng như tỷ lệ hiện mắc giang mai ở thai phụ và người cho máu ở một số tỉnh. Các trường hợp giang mai bẩm sinh và lậu mắt sơ sinh được báo cáo trở nên rất hiếm. Khuynh hướng này có thể được giải thích bằng cả những yếu tố dịch tễ học và hoạt động: hiệu quả của phòng chống các BLTQĐTD “kinh điển” như giang mai, lậu…, sự phát triển của nhiễm khuẩn chlamydia và những BLTQĐTD do siêu vi có dấu hiệu lâm sàng thấy được như HPV, HSV-2… và nỗ lực lồng ghép vào hệ thống săn sóc sức khỏe ban đầu với cách tiếp cận theo hội chứng, đặc biệt là vào các dịch vụ sức khỏe sinh sản.
Sự gia tăng của những BLTQĐTD khác hơn là giang mai và lậu có thể được xem xét một cách dè dặt vì chưa thực hiện được những đánh giá căn nguyên của các hội chứng để giúp diễn giải những trường hợp hội chứng được báo cáo và lượng giá gánh nặng bệnh tật do những căn nguyên chuyên biệt. 72.935 trường hợp BLTQĐTD “khác” được báo cáo năm 2005 bao gồm hạ cam mềm: 6, hột xoài: 4, herpes: 1523, mồng gà: 9421, viêm niệu đạo do chlamydia: 402, viêm cổ tử cung do chlamydia:1026, trùng roi âm đạo: 1575, candida albicans: 4360, viêm niệu đạo không đặc hiệu: 2811, viêm cổ tử cung không đặc hiệu:39.802, đau vùng bụng dưới:133, nhiễm HIV: 3880, AIDS: 167 và các bệnh khác: 7825.

 


Hình 1. Tỷ lệ mới mắc tối thiểu (TLMMTT) giang mai, lậu và tất cả BLTQĐTD trên 100.000 dân tại phía nam Việt Nam, 1977-2005.

Sự phân bố 76.655 trường hợp được báo cáo năm 2005 theo phái, tuổi và nghề nghiệp có thể được sơ lược như sau:

  1. Nam: 17.58% và nữ: 82,42%
  2. <15 tuổi: 0.17%, 15-49 tuổi: 98.52% và >49 tuổi: 1.31%
  3. Nông dân: 45.70%, công nhân: 12.44%, nghề nhạy cảm: 3.14%, không nghề: 2.00%, sinh viên: 1.51%, nhân viên hành chánh: 1.44%, trí thức: 1.33%, lái xe: 0.70%, bộ đội/cảnh sát: 0.11% và nghề khác: 31.63%.

Từ 2003, giám sát trọng điểm BLTQĐTD hàng năm được phép thực hiện ở 4 tỉnh phía nam nhưng với khá nhiều hạn chế. Năm 2005 có dữ liệu từ TP.HCM, CT, AG và KG nhưng năm 2003-2004 không nhận được thông tin từ CT, cũng như từ KG năm 2003.
BLTQĐTD được qui định cho tất cả các tỉnh là giang mai, lậu, chlamydia và trichomonas nhưng do thiếu kinh phí nên xét nghiệm chlamydia (Quickstic one-step chlamydia diagnostic kit, Pharmatech-USA) và nuôi cấy N. gonorrhoeae chỉ được thực hiện ở TP.HCM. Các xét nghiệm thường được dùng là RPR/VDRL cho giang mai, nhuộm Gram cho lậu, soi tươi cho trichomonas, candida và gardnerella vaginosis. Mặc dù mẫu được chọn là 400 PNMD, 400 bệnh nhân BLTQĐTD nam, 800 thai phụ (TP)
và 800 nghĩa vụ quân sự (NVQS), ngay cả năm 2005 cở mẫu của mỗi phân nhóm của TP.HCM, CT, AG và KG theo thứ tự cũng không được như thế: PNMD (219, 200, 402 và 70), BLTQĐTD nam (200, 400, 59 và 173), TP (800, 800, 1602 và 800) và NVQS (537, 400, 0 and 0). Thông tin về liên kết với giám sát huyết thanh học HIV cũng chỉ được TP. HCM và AG cung cấp. Xét nghiệm HIV được thực hiện theo phương cách II (sử dụng 2 xét nghiệm có cơ chế khác nhau) cho những trường hợp dương tính. Kết quả giám sát trọng điểm BLTQĐTD tại 4 tỉnh phía nam năm 2005 được tóm lược ở Bảng 2.

Với dữ liệu từ các nghiên cứu trước đây, khuynh hướng của tỷ lệ hiện mắc các BLTQĐTD trong vùng rất khó diễn dịch bở vì có thể bị sai lệch do những thay đổi trong dân số được tầm soát, xét nghiệm chẩn đoán, bệnh phẩm được thu thập vv. Nhưng lúc này, chúng tôi vẫn phải tham khảo một số nghiên cứu đặc biệt sau đây để có cái nhìn sơ bộ về những vấn đề giám sát BLTQĐTD quan trọng chưa được đưa vào đánh giá tỷ lệ hiện mắc thường qui.

Năm 1995, một khảo sát tỷ lệ hiện mắc BLTQĐTD được Vụ Sức Khỏe Bà Mẹ Trẻ Em và Kế Hoạch Hóa Gia Đình (SKBMTE/KHHGĐ) của Bộ Y Tế thực hiện ở Viêt Nam. Phụ nữ đến khám tại Trung Tâm SKBMTE/KHHGĐ TP. HCM được thu dung trong 10 tuần. Tổng cộng 812 phụ nữ ở độ tuổi 15-39 đã được thu dung. Chẩn đoán bệnh lậu được dựa trên nuôi cấy và được xác nhận bằng một xét nghiệm kháng thể đơn dòng đặc hiệu cho N. gonorrhoea. Sự hiện diện của C. trachomatis được xác định bằng kỹ thuật ELISA phát hiện kháng nguyên (IDEIA) trong bệnh phẩm nội mạc cổ tử cung. RPR và TPHA được thực hiện cho tất cả các mẫu máu để tìm bệnh giang mai. Tỷ lệ BLTQĐTD được tìm thấy là giang mai: 0.5%, lậu: 0.7% và chlamydia: 2.5%.

Dựa trên một đánh giá tỷ lệ các BLTQĐTD sẵn có năm 1998, TCYTTG – VTTBD đã thực hiện một ước lượng thô các BLTQĐTD tại một số nước ở Vùng Tây Thái Bình Dương trong thập niên 1990. Việt Nam có các tỷ lệ xấp xỉ <1% cho giang mai, <1% cho lậu và 2% cho Chlamydia.

Một nghiên cứu cắt ngang về nhiễm HIV và các yếu tố nguy cơ ở PNMD tại phía nam Việt Nam đã được Nguyễn Thị Thanh Thủy, Võ Tuyết Nhung, Nguyễn Văn Thục, Trương Xuân Liên và Hạ Bá Khiêm thực hiện vào 1995-1996. Tổng cộng 968 PNMD ở TP.HCM, Cần Thơ và An Giang được thu dung. Các xét nghiệm BLTQĐTD được thực hiện là: soi tươi tiết dịch âm đạo tìm trichomonas - candida, nuôi cấy để phân lập N. gonorrhoeae, SERODIA (Nhật) và 2 ELISA (Sanofi, Organon) để phát hiện nhiễm HIV được xác nhận bằng Western Blot, TPHA cho giang mai, DIF cho C. trachomatis và ELISA HBsAg cho HBV. Tỷ lệ hiện mắc của các BLTQĐTD được tìm thấy là 40,4% cho giang mai, 3,3% cho lậu, 5,8% cho chlamydia, 19,0% cho trichomonas, 15,9% cho candida, 16,9% cho gardnerella, 5,2% cho HIV và 9% cho HBsAg.

Năm 1998, trong một khảo sát về các BLTQĐTD ở 301 bệnh nhân BLTQĐTD nam và 235 bệnh nhân BLTQĐTD nữ tại Bệnh Viện Da Liễu TP.HCM, với xét nghiệm ELISA HBsAg và ELISA Anti-HBs chúng tôi nhận thấy tỷ lệ hiện mắc của HBsAg và Anti-HBs theo thứ tự là 19,3% và 46% cho bệnh nhân nam, so với 8,1% và 48,1% ở bệnh nhân nữ.

Năm 2001-2002, Huỳnh Thị Trọng, Nguyen Quoc Chinh và Nguyễn Văn Tú đã thực hiện một nghiên cứu cắt ngang với phương pháp chọn mẫu xác xuất tỷ lệ với cỡ mẫu để xác định tỷ lệ hiện mắc các nhiễm khuẩn đường sinh sản dưới của 2234 phụ nữ đã kết hôn, ở lứa tuổi mang thai, sống tại TP.HCM. Các xét nghiệm được thực hiện là: nuôi cấy để phân lập N. gonorrhoea, Smart Check Chlamydia cho chlamydia trachomatis, RPR-nosticon cho giang mai, soi tươi tiết dịch âm đạo để tìm trichomonas và candida, whiff test – pH – clue cell cho viêm âm đạo do trực khuẩn. Tỷ lệ hiện mắc giang mai, lậu, chlamydia, trichomonas, candida và viêm âm đạo do trực khuẩn theo thứ tự là 0,2%, 0,2%, 0,6%, 1,2%, 3,0%, 9,6%.

Năm 2002-2003, Ủy Ban Dân Số, Gia Đình và Trẻ Em Việt Nam – Cục Phòng Chống AIDS Bộ Y Tế và Viện Pasteur TP.HCM đã tiến hành nghiên cứu BLTQĐTD/HIV ở phụ nữ mãi dâm tại 5 tỉnh biên giới Lai Châu, Quảng Trị, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang. Có tất cả 703 PNMD của 3 tỉnh phía nam tham gia vào nghiên cứu cắt ngang này. Huyết thanh được xét nghiệm HIV (1SFD+2 ELISA), giang mai (RPR+TPHA) và herpes simplex vi rút type-2 (ELISA), và nước tiểu được xét nghiệm bệnh lậu và chlamydia bằng kỹ thuật Roch Amplicor. Tỷ lệ hiện mắc giang mai, lậu, chlamydia, lậu/chlamydia, HIV và HSV-2 gộp chung ba tỉnh theo thứ tự là 13,5%, 18,8%, 26,3%, 17,1%, 13,5% và 31,9%.

Năm 2006, Viện Pasteur TP.HCM cùng Sở Y Tế và các Trung Tâm Phòng Chống HIV/AIDS, Y Tế Dự Phòng Cần Thơ thực hiện một nghiên cứu trên 480 sinh viên tại Đại Học Cần Thơ. Huyết thanh được thử ELISA HSV-2 cho HSV, RPR/TPHA cho giang mai và phương cách III cho HIV. Tỷ lệ hiện mắc của những BLTQĐTD này theo thứ tư là 9,38%, 0% và 0%. Cùng thời gian đó, Viện Pasteur TP.HCM phối hợp với Sở Y Tế –Trung Tâm Y Tế Dự Phòng – Bệnh Viện Đa Khoa tỉnh – Trung Tâm Sức Khỏe Sinh Sản và Trung Tâm Y Tế Hà Tiên của tỉnh Kiên Giang tiến hành một nghiên cứu tương tự trên 480 phụ nữ mang thai. Tỷ lệ hiện mắc được xác định theo thứ tự là 18,5%, 0% and 0,4%.

Năm 2003, Viện Pasteur TP.HCM và Văn Phòng Phòng Chống AIDS cùng Trung Tâm Phòng Chống Bệnh Xã Hội Sóc Trăng nghiên cứu về BLTQĐTD/HIV ở 395 PNMD của tỉnh Sóc Trăng. Các kỹ thuật được sử dụng để xét nghiệm BLTQĐTD là PCR (Amplicor CT/NG, Roch, 2002) để tìm N. gonorrhoea và C. trachomatis trong nước tiểu, RPR (Bio-Rad, 2002) và TPHA (Bio-Rad, 2002) để tìm giang mai, SFD (Bio-Rad, 2002) và 2 ELISA (Abbott, 2002 và Bio-Rad, 2002) để tìm HIV, soi tươi tìm trichomonas và candida, và Whiff test – pH – clue cell để chẩn đoán viêm âm đạo do trực khuẩn. Tỷ lệ hiện mắc giang mai, lậu, chlamydia, lậu/chlamydia, trichomonas, candida, viêm âm đạo do trực khuẩn và HIV là 3,8%, 14,9%, 48,4%, 54,9%, 8,9%, 12,2%, 28,9% và 3,3%.

Năm 2003, Vũ Thi Nhung, Hồ Hùynh Thùy Dương, Nguyễn Hòang Chương và Nguyễn Thi Anh Vân tiến hành một nghiên cứu về mối liên hệ giữa các kiểu HPV và những thương tổn tiền ung thư – ung thư trên 50 bệnh nhân có những thương tổn cổ tử cung từ CIN I đến ung thư tế bào ở Bệnh Viện Hùng Vương TP. HCM. 38/50 bệnh nhân có HPV(+) (76%). HPV nguy cơ thấp, kiểu 11, có tỷ lệ cao nhất (26%). HPV nguy cơ cao, kiểu 16, được tìm thấy ở 21%.

Năm 1997, Viện Ung Bướu, Hà Nội – Bệnh Viện Hùng Vương TP.HCM, Việt Nam - Proyecto Epidemiologico Guanacaste, Santa Ana, Costa Rica- International Agency for Research on Cancer, Lyon, France- Children’s Hospital & Regional Medical Center, Virology Laboratory Seattle, WA, USA and VU Medical Center, Amsterdam, the Netherlands thực hiện một nghiên cứu chọn mẫu ngẫu nhiên trên quần thể về nhiễm HPV ở phụ nữ đã kết hôn, tuổi 15-69 tại phía nam và phía bắc Việt Nam. Để phát hiện AND HPV, GP5+/6+ primer mediated PCR enzyme immunoassay đã được sử dụng. Có tất cả 922 phu nữ tại TP.HCM được thu dung và đã tìm thấy 10,9% HPV(+) (đơn: 6,4% và đa: 4.5%). Ở TP.HCM và Hà Nội 30 kiểu HPV khác nhau đã được tìm thấy, thường gặp nhất là HPV 16 (trong 14 đơn và 18 đa nhiễm), theo sau là HPV 58,18 và 56.

Các BLTQĐTD “kinh điển” giảm cũng được nhận thấy ở nhiều quốc gia khác. Như ở Mỹ, tỷ lệ các bệnh này giảm giữa những năm 1970 cho đến 2000 nhưng nay gia tăng trở lại. Tỷ lệ hiện mắc của những bệnh nổi cộm hơn ở phía nam Việt Nam chưa được xác định.

Nhiễm Chlamydia có vẽ là BLTQĐTD do vi khuẩn phổ biến nhất như ở nhiều quốc gia khác. Những nghiên cứu nói trên cho thấy khuynh hướng gia tăng của BLTQĐTD này. Điều này có thể được giải thích một phần do thiếu chiến lược phòng chống bệnh. Từ nhiều năm, chỉ có khuyến cáo “tùy vào tỷ lệ mới mắc của bệnh trong vùng, thường điều trị cả chlamydia và lậu”. Bệnh lậu được dùng như là bệnh chỉ điểm, nhưng không may là khoảng 50% phụ nữ không có triệu chứng, xét nghiệm thường được sử dụng cho tiết dịch niệu đạo và âm đạo lại là nhuộm Gram với độ nhạy ở phụ nữ chỉ có 50-70%, tỷ lệ hiện mắc bệnh lậu giảm mạnh và trở nên thấp hơn nhiều so với tỷ lệ hiện mắc chlamydia, đồng nhiễm chỉ được nhận thấy ở khoảng 25% trường hợp. Xét nghiệm chlamydia hiếm khi được làm thường qui trong khi nhiễm chlamydia là không có triệu chứng ở 70-80% phụ nữ và >50% nam giới!

9421 trường hợp mồng gà đã được báo cáo trong năm 2005, chỉ dựa vào dấu hiệu lâm sàng. Năm 1997, Kroustky đã trình bày một hình tháp tỷ lệ hiện mắc HPV, kể từ đỉnh xuống: 1% mồng gà sinh dục, 4% Pap bất thường, 10% nhiễm HPV dưới lâm sàng, 60% tiền nhiễm và 25% không bao giờ bị nhiễm. Công trình nghiên cứu mà Bệnh Viện K Hà Nội và Bệnh Viện Hùng Vương TP.HCM hợp tác quốc tế thực hiện nói trên đã cho thấy HPV DNA được phát hiện ở 10,9% phụ nữ tại TP.HCM. Số bệnh nhân mồng gà được điều trị nội trú tại Khoa Lâm Sàng 3, Bệnh Viện Da Liễu TP.HCM (cho BLTQĐTD và HIV/AIDS nặng) gia tăng nhanh trong những năm 2002, 2003 và 2004: theo thứ tự là 5/37 (13,5%), 22/52 (42,3%) và 56/70 (80%).
Vấn đề tầm soát ung thư cổ tử cung cho phụ nữ đến các phòng khám BLTQĐTD hay có tiền sử về BLTQĐTD chưa được màng lưới da liễu quan tâm. Những phụ nữ với tiền sử BLTQĐTD có thể bị gia tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung, và phụ nữ đến khám tại các phòng khám BLTQĐTD có thể có những yếu tố nguy cơ khác làm cho họ còn bị nguy cơ cao hơn. Những nghiên cứu dịch tễ trên thế giới đã xác định được rằng các thương tổn tiền ung thư cổ tử cung ở phụ nữ đến phòng khám BLTQĐTD cao hơn ở phu nữ đến phòng khám kế hoạch hóa gia đình khoảng năm lần. Pap cổ tử cung là một xét nghiệm tầm soát hiệu quả, chi phí thấp để phòng ngừa ung thư cổ tử cung xâm lấn.

Trong năm 2005, chỉ có 1523 trường hợp herpes sinh dục được báo cáo, dựa trên chẩn đoán lâm sàng trong khi 80% người có huyết thanh dương tính HSV-2 không nhận thức được nhiễm khuẩn của họ. Trong các khảo sát BLTQĐTD/HIV ở PNMD tại 3 tỉnh biên giới (Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang), ở thai phụ tại Kiên Giang và sinh viên tại Cần Thơ nói trên, tỷ lệ huyết thanh dương tính HSV-2 ở PNMD tại Đồng Tháp là 22,2%, AG 33,3% và KG 29,9%, ở thai phụ 18,5% và sinh viên 9,38%.

Chúng tôi chưa có thông tin giá trị về HBV như là một BLTQĐTD. Chỉ mới có một số dữ liệu nói trên về tỷ lệ huyết thanh dương tính HBsAg ở PNMD tại TP.HCM, CT và AG năm 1995-1996 (9%), và ở bệnh nhân BLTQĐTD nam (19,3%) và nữ (8,1%) tại TP.HCM.

Để theo dõi N. gonorrhoea kháng kháng sinh, hàng năm chúng tôi khảo sát tính nhạy cảm của những phân lập thu được ở TP.HCM theo khuyến cáo của Chương Trình Giám Sát Lậu Cầu Kháng Kháng Sinh (GASP) thuộc TCYTTG. Lậu cầu kháng ciprofloxacin lưu hành rất cao. Spectinomycin nên được sử dụng như là chọn lựa hàng đầu cho tất cả bệnh nhân được chẩn đoán hay nghi bị bệnh lậu. Sự phát triển đề kháng với những thuốc uống cephalosporin thế hệ thứ ba và ceftriaxone cần được quan tâm. Kết quả giám sát năm 2005 được tóm lược ở bảng 3.

Sự chồng chéo bất thường giữa tiêm chích ma túy và mãi dâm đang làm cho dịch tễ HIV ở phía nam Việt Nam trầm trọng thêm. Một số công trình nghiên cứu của chúng tôi tại TP. HCM đã cho thấy rằng trong các năm 2001 (n=800), 2002 (n=306), 2003 (n=381) và 2004 (n=357) tỷ lệ PNMD tiêm chích ma túy theo thứ tự là 19%, 20,9%, 11,1% và 9,1%. Trong thời gian đó, tỷ lệ HIV(+) ở PNMD tiêm chích ma túy theo thứ tự là 82,2%, 76,6%, 59,5% và 74,2%, trong khi ở PNMD hút hít ma túy tỷ lệ HIV(+) thấp hơn nhiều: theo thứ tự là 19,2%, 43,8%, 10,5% và 31,3%, và ở PNMD không sử dụng ma túy tỷ lệ còn thấp hơn nữa: theo thứ tự là 11,3%, 11,5%, 4,7% và 6,5%.

Do đó có yêu cầu cấp thiết phải lập một chương trình phòng chống BLTQĐTD thích hợp trong khuôn khổ chương trình quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, và đầu tư hợp lý cho những chiến lược chính của chương trình, đặc biệt là giám sát, tầm soát và quản lý điều trị toàn diện trường hợp bệnh, quan tâm thích đáng đến những vấn đề BLTQĐTD nổi cộm hiện nay như Chlamydia, HPV, HSV, HBV…

Tháng 5 năm 2006, Ban Điều Hành Phòng Chống HIV/AIDS Khu Vực Phía Nam có trình bày một phân tích tình hình dịch tễ với những điểm chính như sau:

  1. KVPN là vùng có số lượng trường hợp nhiễm HIV cao nhất, khoảng 65% số trường hợp được báo cáo của cả nước.
  2. Dịch có dấu hiệu chững lại ở PNMD, và giảm nhẹ ở người NCMT.
  3. Dịch có khuynh hướng chững lại hay giảm nhẹ ở những nhóm nguy cơ thấp, đặc biệt là ở NVQS.
  4. Như thế dịch HIV ở các nhóm nguy cơ cao vẫn ở mức tập trung (mức II, UNAIDS, 2001).
  5. Tuổi của những trường hợp nhiễm HIV có khuynh hướng trẻ hơn, tập trung vào các lứa tuổi 20-29 và 30-39.
  6. Mặc dù dịch tập trung ở các nhóm nguy cơ cao, nếu không kịp thời có những biện pháp can thiệp hữu hiệu, dịch sẽ lan rộng trong cộng đồng qua các nhóm nguy cơ cao, đặc biệt là PNMD, bệnh nhân BLTQĐTD và TCMT.

Bảng 2. Giám sát trọng điểm BLTQĐTD năm 2005 ở TP. Hồ Chí minh, Cần Thơ, An Giang và Kiên Giang.

 

Tỷ lệ hiện mắc (%) ở

PNMD

BLTQĐTD nam

TP

NVQS

Giang mai

4.94

1.80

0.07

0

Lậu

4.64

11.34

0.35

 

Trichomonas

8.13

 

0.84

 

Chlamydia

27.40

23.5

18.38

 

Candida

11.93

 

16.75

 

Gardnerella

3.20

 

0.88

 

HIV

11.76

5.02

0.04

0.52

Bảng 3:Tính nhạy cảm của những phân lập N. gonorrhoea, TP.HCM, 2005.


Kháng sinh

n

Nhạy

Trung gian

Kháng

Tetracycline

132

 

18.94%

81.06%

Ciprofloxacin

132

 

34.85%

65.15%

Nalidyxic acid

132

0.76%

1.51%

97.73%

Penicilline

132

0.76%

31.82%

67.42%

Bactrim

129

20.93%

21.71%

57.36%

Doxycyclin

132

58.33%

18.18%

23.49%

Kanamycin

25

76.00%

16.00%

8.00%

Ceftriaxone

132

81.82%

18.18%

 

Erythromycin

132

82.58%

17.22%

 

Cefixime

132

98.48%

0.76%

0.76%

Spectinomycin

132

100%

 

 

Chloramphenicol

143

100%

 

 

Azithromycine

44

100%

 

 

NGUYỄN VĂN THỤC
BV. DA LIỄU TP. HCM.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:


    • 21 Southern Provinces of Vietnam. Annual provincial reports on STIs from 1977 to 2005.
    • Hospital of Dermato-Venereology of Ho Chi Minh City. STI screening surveillance among female sex workers and syphilis screening surveillance among pregnant women and blood donors in Ho Chi Minh City from 1996 to 2005.
    • Hospital of Dermato-Venereology of Ho Chi Minh City. STI sentinel surveillance in Ho Chi Minh City, 2003, 2004 and 2005.
    • Hospital of Dermato-Venereology of Can Tho province. STI sentinel surveillance in Can Tho province, 2005.
    • Preventive Health Center of An Giang province. STI sentinel surveillance in An Giang province, 2003, 2004 and 2005.
    • Social Diseases Prevention Center of Kien Giang province. STI sentinel surveillance in Kien Giang province, 2004 and 2005.
    • World Health Organization- Regional Office for the Western Pacific. STD Prevalence in Three Countries in the Western Pacific Region. STD/HIV/AIDS Surveillance Report, Special Edition, No 10, October 1997.
    • World Health Organization- Regional Office for the Western Pacific. Developing Estimates for Curable STIs in Selected Countries for the Western Pacific Region. STD/HIV/AIDS Surveillance Report, Special Edition, No 14, October 1999.
    • Huynh Thi Trong, Nguyen Quoc Chinh and Nguyen Van Tu. Prevalence of lower reproductive tract infections among married childbearing-age women in Ho Chi minh City, 2002.
    • Nguyen Thi Thanh Thuy, Vo Tuyet Nhung, Nguyen Van Thuc, Truong Xuan Lien and Ha Ba Khiem. HIV infection and risk factors among female sex workers in southern Vietnam. AIDS 1998, 12:425-432.
    • Nguyen Van Thuc and al. STIs among STI patients at Hospital of Dermato-Venereology in Ho Chi Minh City, 1998.
    • HCMC Pasteur Institute, and HIV/AIDS Prevention Center and Preventive Health Center of Can Tho province. Prevalence of HSV-2, syphilis and HIV infection among students in Can Tho Province, 2006.
    • HCMC Pasteur Institute, and Health Service, Preventive Health Center, General Hospital, Reproductive Health Center and Ha Tien Health Center of Kien Giang province. Prevalence of HSV-2, syphilis and HIV infection among pregnant women in Kien Giang Province, 2006.
    • Vietnam Commission for Population, Family and Children – Ministry of Health AIDS Division and Pasteur Institute Ho Chi Minh City. STI/HIV survey among female sex workers in 5 border provinces, Vietnam, 2002. Medical Publishing House, 2003.
    • Vietnam Commission for Population, Family and Children – Ministry of Health AIDS Division and Pasteur Institute Ho Chi Minh City. STI/HIV survey among female sex workers in 5 border provinces, Vietnam, 2002. Supplement report: HSV-2. Ho Chi Minh City, March 2004.
    • Ho Chi Minh City Pasteur Institute and Soc Trang AIDS Prevention Bureau and Social Diseases Control Center. STI/HIV survey among female sex workers in Soc Trang province, 2003.
    • Vu Thi Nhung, Ho Huynh Thuy Duong, Nguyen Hoang Chuong and Nguyen Thi Anh Van. Relationship between HPV types and cervical precancerous – cancerous lesions at Hung Vuong Hospital in the year 2003.
    • Pham Thi Hoang Anh, Nguyen Trong Hieu, Rolando Herrero, Salvatore Vaccarella, Jennifer S. Smith, Nguyen Thi Thuy, Nguyen Hoai Nga, Nguyen ba Duc, Rhoda Ashley, PeterJ.F. Sijders, Chris J.L.M. Meijer, Nubia Munoz, D. Max Parkin and Silvia Franceschi. Human papillomavi rút infection among women in south and north Vietnam. Int. J. Cancer; 194, 213-220 (2003).
    • Nguyen Van Thuc. Abnormal trend of HIV infection among female sex workers in Ho Chi Minh City, Vietnam from 2001 to 2004.
    • Le Truong Giang, Vu Hong Thai, Nguyen Van Thuc, Le Thi Thanh Truc and Le Ba Quang. Etiologies and trends of sexually transmitted diseases among HIV infected and non- infected patients in Ho Chi Minh City from 2002 to 2004.
    • Steering Committee of HIV/AIDS Prevention in Southern Vietnam. Epidemiology of HIV/AIDS in Southern Vietnam. May 2006
    • World Health Organization. Guidelines for Sexually Transmitted Infections Surveillance. WHO/CDS/CSR/EDC/99.3.
    • US CDC. Sexually Transmitted Diseases Treatment Guidelines 2002. MMWR May 10, 2002/Vol. 51/ No. RR-6.
    • World Health Organization. Guideline for the management of sexually transmitted infections. WHO/HIV_AIDS/2001.01, WHO/RHR/01.10.

     

 
Trang chủ | Font | Liên hệ | Tìm kiếm | Check e_mail | English  
Bản quyền của Viện Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh - 167 Pasteur, Phường 8, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
Tel: (84-8) 8200739, Fax: (84-4) 8231419