|
|
|
 |
|
|
 |
CHỦNG NGỪA CÁC BỆNH NHIỄM KHUẨN NẶNG Ở
TRẺ EM BỊ NHIỄM HIV
Các từ viết tắt:
BCG: vắc-xin ngừa lao
DT (Diptheria, Tetanus toxoids): các độc tố của Bạch hầu, Uốn váng
DTaP (Diptheria, tetatus, acellular pertussis): Bạch hầu, uốn váng và ho gà
HBIG (Hepatitis B immunoglobulin): globulin miễn dịch viêm gan B
Hep A (hepatitis A): Viêm gan A
Hep B (Hepatitis B): Viêm gan B
HiB (Haemophilus influenzae type b)
IGIV (Intravenous immunoglobulin): globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch
IPV (Inactivated polio vaccine): vắc-xin bại liệt bất họat
MMR (Measles, mumps and rubella): sởi, quai bị và rubella
OPV ( Oral polio vaccine): Vắc-xin bại liệt dạng uống
PCV ( Pneumococcal conjugate): cộng hợp phế cầu
Var (Varicella): Thủy đậu
VZIG (Varicella-zoster immunoglobulin): globulin miễn dịch với thủy đậu và zô-na
TỔNG QUAN:
Dữ liệu về việc sử dụng các vắc-xin vi khuẩn và vi-rút sống hiện nay ở trẻ em nhiễm HIV còn giới hạn, nhưng các biến chứng sau chủng ngừa BCG và sởi đã được tường thuật. Vì đã có báo cáo các trường hợp sởi nặng ở trẻ em nhiễm HIV, bao gồm cả các trường hợp tử vong do sởi, chiếm khoảng 40%, nên việc chủng ngừa sởi (có trong vắc-xin MMR) được khuyến cáo cho hầu hết các trường hợp nhiễm HIV ở trẻ em, bao gồm cả trẻ có triệu chứng nhưng chưa suy giảm miễn dịch nặng, cũng như cả trẻ không triệu chứng. Nên tiêm Vắc-xin cho trẻ lúc 12 tháng tuổi để tăng cường khả năng đáp ứng miễn dịch. Trong vùng có dịch sởi, nên tiêm vắc-xin sớm hơn, chẳng hạn lúc 6-9 tháng tuổi, sau đó tiêm tiếp một mũi vào 12 tháng tuổi (hay một tháng sau tiêm mũi đầu tiên). Đối với trường hợp tiêm liều thứ nhất lúc 12 tháng tuổi, thì sau một tháng tiêm tiếp liều thứ hai để kích thích chuyển đổi huyết thanh càng sớm càng tốt. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân nhiễm HIV suy giảm miễn dịch trầm trọng, tức là có số tế bào CD4 thấp hay tỉ lệ CD4 so với toàn bộ tế bào lym-phô khá thấp thì không nên chủng vắc-xin sởi.
Vắc-xin thủy đậu nên được cân nhắc kỹ lưỡng khi tiêm cho trẻ nhiễm HIV không triệu chứng hay có triệu chứng nhẹ với tỉ lệ tế bào CD4 chiếm trên 25% so với toàn bộ lym-phô bào. Trẻ nhiễm HIV không hay có triệu chứng cũng nên được chủng các vắc-xin thường quy khác như DTaP, IPV, Viêm gan B, và HiB cộng hợp, theo lịch tiêm chủng đã khuyến cáo. Chủng ngừa vắc-xin cúm cũng được khuyến cáo ở trẻ nhiễm HIV. Chủng ngừa phế cầu cũng được chỉ định dựa vào tuổi và các khuyến cáo đặc thù cho vắc-xin. Các dữ liệu về tác động của tiêm chủng thường quy đối với tải lượng vi-rút còn khá hạn chế. Một số nghiên cứu ở người lớn cho thấy có sự gia tăng thoáng qua mức ARN-HIV sau khi tiêm vắc-xin cúm và phế cầu, trong khi các nghiên cứu khác lại không cho thấy điều này. Không có bằng chứng cho rằng sự gia tăng thoáng qua này ảnh hưởng đến diễn tiến của bệnh.
Ở Hoa Kỳ, BCG bị chống chỉ định ở bệnh nhân nhiễm HIV. Trên thế giới, ở một số vùng có tỉ suất nhiễm lao mới cao, Tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo chủng ngừa BCG cho trẻ nhiễm HIV không triệu chứng.
Người ta không khuyến cáo việc xét nghiệm HIV ở trẻ em một cách thường quy hay mở rộng trước khi tiêm chủng. Trẻ không biểu hiện lâm sàng hay không biểu hiện một yếu tố nguy cơ nhiễm HIV nào nên được chủng ngừa theo như khuyến cáo của việc chủng ngừa thường quy.
Lọại vi-rút Thủy đậu – Zô-na có trong vắc-xin rất hiếm khi truyền từ người khỏe mạnh. Vì vậy, các thành viên trong gia đình của người nhiễm HIV có thể được chủng ngừa vắc-xin thủy đậu sống. Không cần phải đề phòng nếu sau khi tiêm ngừa vắc-xin mà trẻ không có dấu hiệu nổi mẫn. Người được tiêm ngừa nếu có nổi mẫn thì phải tránh tiếp xúc với những cá thể bị suy giảm miễn dịch trong suốt thời gian nổi mẫn. Nếu như người suy giảm miễn dịch mắc thủy đậu do tiếp xúc như trong trường hợp đã nêu thì bệnh sẽ diễn tiến nhẹ; không cần phải chỉ định dùng VZIG để phòng ngừa sự lây truyền bệnh do tiếp xúc.
CHỦNG NGỪA CHO TRẺ BỊ SUY GIẢM MIỄN DỊCH
Tính an toàn và hiệu quả của các vắc-xin tiêm cho người bị suy giảm miễn dịch hầu như phụ thuộc vào bản chất và mức độ suy giảm miễn dịch. Người bị suy giảm miễn dịch thay đổi theo mức độ suy giảm miễn dịch và tính cảm nhiễm với nhiễm trùng. Các điều kiện suy giảm miễn dịch có khả năng tập hợp lại thành 2 nhóm chính: các rối lọan hệ thống miễn dịch nguyên phát và thứ phát. Rối loạn hệ thống miễn dịch nguyên phát thông thường có tính di truyền, bao gồm các rối loạn miễn dịch (dịch thể) các lym-phô bào B, miễn dịch (qua trung gian tế bào)lym-phô T, bổ thể, và chức đại thực bào. Rối loạn hệ thống miễn dịch thứ phát thường có tính mắc phải và xảy ra ở người nhiễm HIV hoặc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, u ác tính, hoặc trong các trường hợp ghép mô cấy phải dùng xạ trị hay trị liệu ức chế miễn dịch. Thông thường, người bị suy giảm miễn dịch nặng hay ở người mà tình trạng miễn dịch chưa được biết chắc chắn thì không nên tiêm loại vắc-xin sống cho dù là vi-rút hay vi trùng vì sẽ có nguy cơ tiến triển thành bệnh.
Các vắc-xin bất hoạt và các globulin miễn dịch nên được sử dụng một cách thích hợp vì nguy cơ biến chứng ở người suy giảm miễn dịch không gia tăng khi dùng các sản phẩm này. Tuy nhiên, ở trẻ suy giảm miễn dịch, đáp ứng miễn dịch với các vắc-xin bất hoạt (ví dụ như: DTaP, viêm gan B, bại liệt bất hoạt, Hib, phế cầu và cúm) có thể thay đổi và không đầy đủ. Vì vậy, tính sinh miễn dịch của các vắc-xin ở những trẻ này có thể bị giảm đi một cách đáng kể. Ở trẻ bị suy giảm miễn dịch thứ phát, khả năng phát triển đáp ứng miễn dịch đầy đủ phụ thuộc vào lúc xảy ra tình trạng ức chế miễn dịch.
Các vắc-xin sống bị chống chỉ định ở hầu hết các bệnh nhân bị khiếm khuyết tế bào lym-phô B ngoại trừ thiếu hụt IgA và cho tất cả các bệnh nhân rối loạn chức năng miễn dịch qua trung gian tế bào lym-phô T. Các vắc-xin sởi và thủy đậu nên được cân nhắc ở trẻ có rối loạn lym-phô B; tuy nhiên, đáp ứng kháng thể có thể không xảy ra vì đang mắc bệnh hay vì bệnh nhân đang được tiêm tĩnh mạch globulin miễn dịch định kỳ. Các trường hợp nhiễm trùng gây tử vong do vi-rút từ các vắc-xin bại liệt và sởi đã xảy ra ở trẻ có rối loạn chức năng tế bào T sau khi sử dụng các vắc-xin sống này. Vắc-xin bại liệt uống không còn được khuyến cáo trong sử dụng thường quy ở Hoa Kỳ. Các vắc-xin bất hoạt nên được chỉ định. Trẻ thiếu hụt khả năng tổng hợp kháng thể thì không có khả năng đáp ứng với bất cứ một vắc-xin nào để tân tạo kháng thể và nên cho dùng globulin miễn dịch đều đặn (thường là IGIV) để tạo ra miễn dịch thụ động bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nhiễm trùng. Các globulin miễn dịch đặc hiệu (thí dụ Globulin miễn dịch Thủy đậu – Zôna (VZIG) hiện đang lưu hành dùng để phòng ngừa sau tiếp xúc một số bệnh nhiễm trùng. Trẻ thiếu hụt kháng thể và tế bào lym-phô B nhẹ có mức độ đáp ứng với vắc-xin trung bình và có thể cần phải theo dõi hiệu giá kháng thể để xác nhận tính sinh miễn dịch.
Nhiều yếu tố nên được cân nhắc trong chủng ngừa cho trẻ bị suy giảm miễn dịch thứ phát, bao gồm căn bệnh đã đề cập, trị liệu ức chế miễn dịch (liều và loch điều trị), và các bệnh nhiễm trùng và bệnh sử chủng ngừa của bệnh nhân. Các vắc-xin sống thông thường bị chống chỉ định bởi vì gia tăng nguy cơ bị các tác dụng phụ nguy hiểm. Một số ngoại lệ ở trẻ bị nhiễm HIV là chúng không bị suy giảm miễn dịch trầm trọng, và trong trường hợp này vắc-xin phối hợp sởi, quai bị và rubella (MMR) được khuyến cáo sử dụng; có thể xét đến việc dùng vắc-xin thủy đậu nếu tỷ lệ tế bào CD4 > 25%. Việc sử dụng vắc-xin thủy đậu ở trẻ em có ung thư lymphô bào cấp trong giai đoạn thoái lui nên được cân nhắc bởi vì nguy cơ phát triển thủy đậu tự nhiên chiếm ưu thế so với nguy cơ phát triển thủy đậu do vi-rút từ vắc-xin sống giảm độc lực.
Vũ Thượng theo
Arthur Ammann, Immunization of HIV-exposed or –infected infants and Children,
Women, Children and HIV, Second Edition, published April 2002
|
|
 |
|
|