Giống như việc điều trị các loại nhiễm trùng khác như vi trùng, ký sinh trùng… các nhà khoa học cũng mong đợi rằng liệu pháp kháng vi-rút nói chung đặc biệt là Retrovirus (Antiretrovirus therapy-ART) là phải điều trị cho người bệnh khỏi bệnh và phòng ngừa được tái nhiễm. Điều này có nghĩa là thuốc phải có khả năng tiêu diệt được vi-rút. Ngoài ra dự phòng tái nhiễm cho bệnh nhân còn liên quan đến vai trò của việc chủng ngừa và giáo dục làm thay đổi hành vi có nguy cơ.
Tuy nhiên vấn đề hiện nay đối với HIV là vẫn chưa có một loại thuốc nào có khả năng tiêu diệt được vi-rút . Các thuốc hiện thời chỉ có tác dụng ức chế sự nhân lên của vi-rút trong máu mà không có khả năng ức chế sự nhân lên của vi-rút trong các mô hoặc cơ quan trong cơ thể. Do vậy việc điều trị ART cho người nhiễm phải được thực hiện “càng sớm càng tốt” và cần “đánh nhanh, đánh mạnh”, điều trị có thể phải kéo dài có khi suốt đời tuỳ thuộc vào đáp ứng miễn dịch trong cơ thể của người bệnh. Bên cạnh đó việc điều trị lại khá tốn kém và gây nhiều tác dụng phụ cho bệnh nhân tùy thuộc vào thời gian điều trị ngắn hay dài.
Mục tiêu của liệu pháp kháng Retrovirus là làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và giảm tỉ lệ tử vong do nhiễm HIV. Việc điều trị nhằm làm giảm nồng độ vi-rút trong máu và phục hồi lại chức năng của hệ thống miễn dịch trong cơ thể làm gia tăng đáp ứng miễn dịch lâu dài cho bệnh nhân.
Khi nào bắt đầu điều trị ART?
Hiện nay việc quyết định điều trị chủ yếu dựa vào nồng độ vi-rút và lượng tế bào CD4 đếm được trong máu bệnh nhân. Tuy nhiên, nghiên cứu của các nhà khoa học tại một số quốc gia đã tiến hành liệu pháp ART cho bệnh nhân từ nhiều năm nay cho thấy: việc điều trị chỉ cần dựa vào lượng CD4 mà không cần phụ thuộc vào nồng độ vi-rút trong máu bởi một số nghiên cứu chứng tỏ không có mối liên quan giữa nồng độ vi-rút trong máu với lượng tế bào CD4. Đôi khi nồng độ vi-rút trong máu giảm nhưng đáp ứng miễn dịch lại không tăng. Điều này đặc biệt thích hợp đối với những nơi không có điều kiện để làm xét nghiệm đếm lượng vi-rút trong máu bệnh nhân.
Tiêu chuẩn điều trị
Một bệnh nhân được quyết định điều trị ART khi:
Số lượng tế bào CD4<350/mm3
Hoặc
Nếu CD4>350/mm3, việc điều trị được tiến hành khi:
- Nồng độ vi-rút trong máu là 30.000 bản sao/mm3
- Hoặc CD4 giảm nhanh chóng >100 tế bào trong năm.
Hoặc
Nếu nồng độ vi-rút >30.000 bản sao nên điều trị sớm để kéo dài đời sống cho bệnh nhân.
Các loại thuốc hàng đầu trong điều trị bằng liệu pháp kháng Retrovirus (ART)
Với phương châm đánh nhanh đánh mạnh làm giảm nồng độ vi-rút trong máu càng nhiều càng tốt, ngày nay đơn trị liệu không còn hiệu quả trong ART. Nên phối hợp 3 loại thuốc bao gồm:
Phác đồ phối hợp thuốc:
- D4T + ddI + 3TC
- Hoặc d4T + ddI + abacavir
Khi phối hợp điều trị với thuốc ức chế protease nên lưu ý:
Nên phối hợp 1 thuốc ức chế protease + Ritonavir liều thấp (100mg x 2 lần/ ngày) để làm tăng tác dụng của các thuốc ART khác.
Khi nào nên thay đổi điều trị?
Việc thay đổi điều trị cho bệnh nhân khi có tác dụng phụ nặng hay biến chứng xảy ra, thường do tác dụng của thuốc ức chế protease. Trong trường hợp này ta có thể thay thế thuốc ức chế protease bằng loại thuốc ức chế men sao chép ngược không có gốc nucleoside thí dụ như Abacavir.
Chiến lược điều trị
Việc theo dõi điều trị nên dựa vào lượng tế bào CD4 và nồng độ vi-rút mỗi 3 tháng, nếu lượng CD4 không tăng và nồng độ vi-rút trong máu không giảm được xem như là thất bại điều trị. Có thể thay đổi thuốc hoặc phác đồ điều trị. Trong trường hợp thất bại điều trị nhiều lần sau khi đổi thuốc ta có thể giải quyết bằng cách:
- Ngưng thuốc tạm thời: ngưng tạm thời một số thuốc điều trị để xem diễn tiến bệnh như thế nào.
- Phối hợp thêm nhiều loại thuốc: có thể 5-6 loại thuốc.
Khi nào nên ngừng điều trị?
1. Thất bại về vi-rút học: khi nồng độ vi-rút trong máu tăng cao, sau khi ngưng thuốc sẽ xuất hiện những dòng kháng thuốc mới. Những dòng mới này có thể sẽ nhạy cảm với một số loại thuốc mới và như vậy sẽ giảm được một số dòng vi-rút có chọn lọc. Mặt khác, đối với một số dòng vi-rút còn nhạy với thuốc sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa những dòng vi-rút với nhau, dòng vi-rút hoang dại ban đầu có thể sẽ nhạy cảm với thuốc còn lại và thuốc có thể tiêu diệt đuợc dòng này.
2. Nồng độ vi-rút không còn phát hiện được trong máu nữa, ta có thể ngưng thuốc để làm tăng đáp ứng miễn dịch tế bào. Hơn nữa việc ngưng thuốc sẽ làm giảm những bất lợi cho bệnh nhân do tác dụng phụ của thuốc gây ra cũng như giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân.
3. Bệnh nhân tự ý ngưng thuốc: có thể do cơ thể bệnh nhân không thể dung nạp được thuốc. Trong trường hợp này cần giải thích rõ cho bệnh nhân khi số lượng CD4 vẫn còn dưới 200, chứng tỏ đáp ứng miễn dịch quá kém và cần điều trị dự phòng bằng Bactrim.
Điều trị thuốc ATR do tai nạn nghề nghiệp
Nhiễm HIV do tai nạn nghề nghiệp xảy ra khi có một tổn thương trên da mà có tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc dịch tiết của cơ thể bệnh nhân nhiễm HIV trong quá trình điều trị, chăm sóc cho bệnh nhân. Nguy cơ ước tính lây nhiễm chung là 0,4%, tuy nhiên, nguy cơ lây nhiễm cao hay thấp này còn tùy thuộc vào:
- Vết thương nông hay sâu
- Tiếp xúc với máu của bệnh nhân có nồng độ vi-rút cao hay thấp
- Kim dính máu hay không…
Xử trí khi bị tai nạn
- Nhanh chóng rửa ngay vết thương với xà phòng và nước sạch.
- Ngâm trong nước Javen khoảng 15 phút.
- Tiến hành điều trị dự phòng ngay càng sớm càng tốt trong vòng 48 giờ sau khi xảy ra tai nạn, tốt nhất là ngay trong những giờ đầu sau khi bị nhiễm.
Điều trị
Điều trị dự phòng lây nhiễm HIV với chỉ AZT đơn thuần cũng có tác dụng giảm 80% nguy cơ lây nhiễm HIV. Tuy nhiên hiện nay việc điều trị dự phòng thường phối hợp với nhiều loại thuốc như:
- AZT + 3TC
- AZT + 3TC + IDV
- Thời gian điều trị là một tháng.
Tài liệu tham khảo
Handout – Lớp tập huấn – Dự án nghiên cứu về AIDS hợp tác giữa ANRS Pháp và Viện Pasteur Tp.Hồ Chí Minh tháng 4/2002
- Indications et suivi de la therapeutique anti Retrovirus . Jean-yves Follezou.
- Les antiretroviraux utilises en multitherapie. Jean Paul Viard.
- Le resistances aux antiretroviraux. Patricia Pinson, Bernard Masquelier.
- Classification and mecanisme d'action des antiretroviraux. Nguyễn Hữu Chí.
(VTTN)