Kết quả của một nghiên cứu gần đây cho thấy cơ chế qua trung gian cytokine có liên quan đến các bệnh lý phục hồi miễn dịch (Immune Restoration Diseases = IRDs) vốn đôi khi xảy ra ở bệnh nhân (BN) nhiễm HIV.
IDRs xảy ra ở BN đáp ứng với trị liệu kháng vi-rút, theo như BS Patricia Price và các đồng nghiệp của bệnh viện Royal Perth, Uc cho biết. Người ta cho rằng IRDs xuất hiện do một đáp ứng miễn dịch bệnh lý với các kháng nguyên của các tác nhân bệnh sinh trước khi xuất hiện các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Tuy nhiên, cơ chế khiến cho IRDs phát triển thì chưa rõ.
Trong một nghiên cứu gần đây, đội của BS Price đã phân tích ADN về vấn đề đột biến các gen cytokine ở 49 BN nhiễm HIV có IRD, 33 BN không mắc IRD, và 154 cá thể HIV âm tính. Ở nhóm IRD, 25 BN có liên quan với nhiễm vi-rút herpes, 13 BN có liên quan với viêm gan C và 11 Bn có liên quan với nhiễm mycobacterium.
Các nhà nghiên cứu đã nhận ra đột biến interleukin-12B chỉ có ở 8% số BN có IRD liên quan với herpes vi-rút, nhưng đột biến này được tìm thấy ở 42% đến 54% số BN IRD do tác nhân khác hoặc không mắc IRD.
So sánh với BN ở các nhóm khác, Bn có IRD liên quan với mycobacterium hiếm khi bị đột biến yếu tố interleukin-6 hay yếu tố hoại tử bướu alpha (TNF-alpha). Trái lại, 525 số BN IRD có liên quan với Herpes vi-rút có đột biến TNF-alpha, vốn dĩ thường gặp ở BN đã bị viêm võng mạc do cytomegalovirus.
Kết quả trên gợi ý đến sự khác biệt về cơ chế qua trung gian cytokines giữa IRD do herpes vi-rút và IRD do mycobacterium. Cần nghiên cứu hơn nữa về vai trò của cytokines ở những trường hợp này và các thể IRD khác để có thể đưa ra hướng tiếp cận mới khi điều trị.
NVT theo Reuters Health,
Cytokine Genes may play role in HIV-related Immune restoration Diseases, AIDS 2002; 16: 2043-2047
CÁC YẾU TỐ TẾ BÀO VÀ VI-RÚT ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘ NHẠY CẢM VỚI CÁC CHẤT ỨC CHẾ ĐI VÀO TẾ BÀO CỦA HIV:
Theo một báo cáo trong tờ PNAS Early Edition vào 18/11/ 2002, độ nhạy cảm của HIV-1 đối với các thuốc ức chế ngõ vào có tương quan với sự thấm nhập của vi-rút, tính ái lực của các đồng thụ thể và mật độ thụ thể.
Hòa màng qua trung gian glycoprotein võ (Env) cho phép HIV đi vào tế bào và người ta đang phát triển nhiều loại thuốc ức chế quá trình đi vào tế bào. Tiến sĩ Jacqueline Reeves của Đại học Pennsylvania ở Philadelphia, Pennsylvania và đồng nghiệp đã nghiên cứu các protein Env hỗn hợp để nhận ra các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của HIV đối với T-20 (ức chế hòa màng) và các phần tử đối vận với các đồng thụ thể.
Sự thay đổi ở vòng V3 của Env đã thay đổi độ nhạy cảm của vi-rút đối với T-20 cho dù T-20 gắn kết với gp41, và sự thay đổi vòng V3 cũng ảnh hưởng đến độ nhạy cảm với các đối vận CCR5 và CXCR4.
Hiệu năng gắn kết Env với các đồng thụ thể CCR5 và CXCR4 trực tiếp liên quan với độ nhạy cảm của HIV đối với các chất ức chế ngõ vào, chỉ cần thay đổi một acid amin là có thể giảm tính ái lực với các đồng thụ thể và gia tăng độ nhạy cảm với T-20.
Tính ái lực của đồng thụ thể cũng ảnh hưởng đến động lực hòa màng và gia tăng tính ái lực với CCR5 có tương quan với gia tăng tỉ lệ hòa màng và đề kháng với T-20.
Một cách tương tự, gia tăng các mức hiện diện của đồng thụ thể sẽ làm gia tăng tỉ lệ hòa màng, do đó giảm thời kỳ Env nhạy cảm với T-20 và đòi hỏi nồng độ T-20 cao hơn để ức chế vi-rút.
Như vậy rõ ràng là cả yếu tố ký chủ và vi-rút sẽ ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của chất ức chế ngõ vào của vi-rút, điều này đã được minh chứng trong thực nghiệm. Nếu các yếu tố này được minh chứng cả ở con người thì chúng sẽ rất có ý nghĩa trong tiên lượng bệnh. Cũng như các thuốc kháng vi-rút khác thì các chất ức chế ngõ vào sẽ cần phối hợp. Tiến sĩ Reeves cho rằng các chất ức chế hòa màng như T-20 và các chất đối vận với đồng thụ thể sẽ cùng nhau tạo nên tác động ức chế hiệp đồng lên virút HIV. Mật độ của các phân tử đồng thụ thể CCR5 trên bề mặt tế bào có khả năng tác động đến lượng T-20 cần có để ức chế sự nhiễm trùng, nếu mức độ đồng thụ thể thấp thì chỉ cần nồng độ T-20 thấp để ức chế nhiễm trùng. Vì vậy, T-20 có thể là trị liệu hầu như hữu hiệu nhất ở những cá thể có mật độ CCR5 trên bề mặt tế bào nhạy cảm thấp hơn.
NVT theo Reuters Health
PNAS Early Edition 18 Nov. 2002; WWW.pnas.org/cgi/doi/10.1072/pnas.252469399
|