HIV/AIDS xâm nhập châu Á chậm hơn các châu lục khác. Cho đến cuối thập niên 80 không quốc gia nào ở đây có dịch lớn; năm 1999, chỉ có Cam-pu-chia, Miến Điện và Thái Lan là có dịch nhiễm HIV/AIDS rộng khắp. Tuy nhiên tình hình đang thay đổi rất nhanh: chỉ riêng trong năm 2001, khu vực châu Á – Thái Bình Dương có 1,07 triệu người lớn và trẻ em mới nhiễm HIV, nâng tổng số người sống với HIV/AIDS (people living with AIDS:PLWAIDS) trong vùng lên đến 7,1 triệu. Mối quan ngại đặc biệt ở đây là dịch nhiễm HIV gia tăng tại những vùng có mật độ dân cư dày đặc nhất thế giới.
Các số liệu giám sát ở quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc còn sơ sài nhưng bộ y tế của nước này ước tính có khoảng 600.000 người Trung Quốc sống với HIV/AIDS vào năm 2000. Sự gia tăng tỉ lệ nhiễm và số trường hợp nhiễm được báo cáo trên các quần thể dân cư trong nhiều vùng thời gian gần đây cho thấy số PLWAIDS ở Trung Quốc có thể vượt quá con số triệu vào cuối năm 2001. Theo Bộ y tế Trung Quốc thì số nhiễm HIV cả nước trong 6 tháng đầu năm 2001 tăng 67,4% so với cùng kỳ năm 2000. Ngày càng có bằng chứng rõ ràng cho thấy có dịch nhiễm HIV/AIDS nghiêm trọng ở tỉnh Henan thuộc miền Trung của Trung Quốc nơi nhiều chục ngàn dân làng đã nhiễm HIV từ đầu những năm 90 do bán máu cho các trung tâm không đảm bảo các kỹ thuật về an toàn truyền máu căn bản. Mức nhiễm HIV được biết cũng đang gia tăng ở các tỉnh khác. Trong năm 2001, 7 tỉnh ở Trung Quốc có dịch nhiễm HIV nghiêm trọng với tỷ lệ hiện nhiễm ở người chích ma tuý (NCMT) cao trên 70% ở một số nơi như huyện Yili ở tỉnh Xinjiang và thị trấn Ruili ở Vân Nam. Chín tỉnh khác đang ở bên bờ vực của dịch nhiễm HIV trên người chích ma túy vì tỉ lệ dùng chung bơm kim tiêm rất cao. Cũng có dấu hiệu về dịch nhiễm HIV qua quan hệ tình dục khác giới ở ít nhất là 3 tỉnh khác (Vân Nam (Yunnan), Quảng Tây (Guangxi) và Quảng Đông (Guangdong)) với tỉ lệ nhiễm HIV lên đến 4,6% ( so với 1,6 % năm 1999) ở Vân Nam và 10,7% (so với 6% năm 1999) ở Quảng Tây trong các quần thể gái mại dâm (GMD) qua giám sát trọng điểm năm 2000.
Nước đông dân thứ hai thế giới là Ấn Độ cũng đang đương đầu với những thử thách tương tự như Trung Quốc. Vào cuối năm 2000, tỉ lệ hiện nhiễm HIV ở người lớn là dưới 1%, nhưng điều này có nghĩa là số người hiện đang sống với HIV/AIDS lên đến 3,86 triệu – cao hơn bất cứ quốc gia nào khác trên thế giới trừ Nam Phi. Thực vậy, tỉ lệ hiện nhiễm HIV trung bình ở thai phụ đến khám thai tại các bệnh viện phụ sản lên đến trên 2% ở Andhra Pradesh và vượt quá 1% ở 5 bang khác (Karnataka, Maharashtra, Manipur, nagaland và Taminadu) và ở một số tỉnh lớn như Bangalore, Chennai, Hyderabad và Mumbai. Dịch nhiễm HIV ở Ấn Độ cũng rất khác biệt ngay trong một bang và giữa các bang khác nhau.
Indonesia, nước đông dân thứ tư thế giới cho chúng ta thấy một điển hình về tốc độ lan tràn HIV rất nhanh. Sau hơn một thập kỷ lây nhiễm chậm nay quốc gia này đang chứng kiến dịch HIV lan nhanh ở người chích ma túy và gái mại dâm ở một số nơi cùng với sự tăng tốc độ nhiễm theo cấp số nhân ở những người cho máu (một dấu hiệu chỉ điểm cho thấy HIV đã lan ra cộng đồng). Nhiễm HIV ở NCMT không được đánh giá đúng mức cho đến năm 1999/2000 khi tỉ lệ nhiễm tăng đột biến đến 15%. Một nghiên cứu gần đây cho thấy 40% NCMT đang được điều trị cai nghiện ở Jakarta nhiễm HIV. Tỉnh Bogor ở Tây Java có 25% số NCMT nhiễm HIV; còn ở Bali tỉ lệ hiện nhiễm ở các phạm nhân có chích ma túy là 53%.
Các hành vi gây nguy cơ nhiễm HIV cao nhất ở châu Á và Thái Bình Dương là quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn (không dùng bao cao su) giữa khách hàng với GMD, dùng chung bơm kim tiêm và QHTD không an toàn ở những người đồng tính luyến ái nam. Thế nhưng nhiễm HIV không chỉ khu trú ở những nhóm người có hành vi nguy cơ cao. Nhiều nước trong vùng đã chứng kiến dịch lan ra cộng đồng ở những nhóm người có hành vi nguy cơ thấp hơn; dịch nhiễm HIV ở miền Bắc Thái Lan cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 chủ yếu diễn ra theo cách này. Hơn 10% nam thanh niên nhiễm HIV trước khi có các nỗ lực phòng chống dịch ở cấp độ quốc gia và khu vực bao gồm chương trình sử dụng 100% bao cao su để khuyến khích QHTD an toàn, giảm hành vi nguy cơ và giảm tỉ lệ nhiễm HIV. Tình dục thương mại tạo điều kiện cho virus HIV lan tràn nhanh. Các dữ liệu chưa đầy đủ về hành vi thu thập được trong vùng gần đây cho thấy trong hơn một thập kỷ qua, tỷ lệ nam thanh niên khai rằng họ có QHTD với 1 GMD trong vòng một năm tính đến thời điểm được khảo sát dao động từ 5% ở một số nước đến 20% ở một số nước khác. Ấn Độ và Việt Nam là những nước mà mức độ nhiễm ở khách làng chơi và GMD đang gia tăng; ở Tp. Hồ Chí Minh, tỉ lệ nhiễm HIV ở GMD tăng rất nhanh từ năm 1998 và đạt mức hơn 20% trong năm 2000.
Ít quốc gia nào có hành động đủ mạnh để bảo vệ GMD và khách hàng khỏi nhiễm HIV. Chính từ một nhóm rất ít các GMD đầu tiên bị nhiễm HIV qua khách làng chơi mà HIV đã lây sang nhiều khách hàng chưa bị nhiễm khác và cuối cùng virus được truyền qua vợ và bạn tình của những khách hàng này. Dù các khảo sát về hành vi gần đây cho thấy ở 11 trong số 15 các nước ở châu Á và các bang của Ấn Độ, hai phần ba số GMD nói họ có dùng BCS khi QHTD với khách hàng trong lần gần đây nhất, vẫn cần khuyến khích mọi người tăng cường sử dụng bao cao su khi QHTD. Ở bangladesh, Indonesia, Nepan và Philippines dưới 50% các GMD nói họ có dùng BCS với tất cả các khách hàng.
Việc dùng chung bơm kim tiêm ở NCMT là phương thức làm HIV lan truyền rất nhanh và các chương trình phòng lây nhiễm HIV ở các quần thể NCMT là một trong những ưu tiên hàng đầu của y tế công cộng. Trên 50% NCMT bị nhiễm HIV ở Miến Điện, Nepal, Thái Lan, tỉnh Vân Nam của Trung Quốc và Bang Manipur ở Ấn Độ. Các khảo sát gần đây cho thấy một phần ba số NCMT ở Việt nam có dùng chung bơm kim tiêm với bạn chích, trong khi đó 55% số đàn ông CMT ở phía Bắc và 75% ở miền Trung Bangladesh nói họ có chích chung kim ít nhất là 1 lần trong vòng 1 tuần lễ ngay trước khi được phỏng vấn. Các chương trình giảm tác hại có trọng tâm thực sự có hiệu quả. Vào cuối thập niên 1980, Australia đã ngăn chặn được dịch nhiễm HIV ở NCMT và không để dịch lan ra cộng đồng. Một vài nước có áp dụng mô hình của Australia nhưng chưa toàn diện; như dự án SHAKTI ở Dhaka, Bangladesh cung cấp bơm kim tiêm sạch, bao cao su và giáo dục về an toàn tình dục cho NCMT; dự án IKHLAS ở thủ đô Kuala lumpur của Malaysia cung cấp dịch vụ hỗ trợ đồng đẳng cho NCMT. Tuy nhiên con số 5000 NCMT được tiếp cận chỉ là một phần trong quần thể NCMT ở Malaysia. Các chương trình can thiệp như thế nên được mở rộng ở cấp độ quốc gia nhằm ngăn chặn dịch tập trung ở các nhóm có nguy cơ cao (như NCMT và GMD) lan ra cộng đồng. Nhiều NCMT là thanh niên có QHTD; phần đông có bạn tình thường xuyên, số khác có đi mua dâm. Sự trùng lắp giữa sử dụng ma túy và mua dâm là đáng kể. Tại vài thành phố ở Việt Nam, 17% NCMT nói họ có QHTD với GMD mà không dùng BCS trong thời gian gần đây. 50-75% NCMT tại một số thành phố ở Bangladesh có QHTD với GMD trong năm vừa qua và chưa đến 25% trong số họ có dùng BCS trong lần QHTD gần đây nhất với GMD. Ở Việt Nam ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy một số GMD cũng chích ma túy.
Trong số đàn ông có QHTD đồng giới ở châu Á nhiều người còn QHTD khác giới. Họ cũng lập gia đình và có con cái. Chính điều này làm cầu nối cho virus lây từ đàn ông sang đàn ông rồi sang vợ/bạn tình tức là lây ra cộng đồng. Chẳng hạn như ở Cam-pu-chia, 40% những người đồng tính luyến ái nam khai rằng họ có QHTD với phụ nữ trong vòng 1 tháng trước khi được phỏng vấn. Đồng thời cũng có bằng chứng rõ ràng cho thấy các chương trình dự phòng mang tính tập trung thực hiện trên diện rộng nhằm vào cả những người có hành vi nguy cơ cao lẫn quần thể rộng hơn có thể làm giảm tỷ lệ nhiễm ở những nhóm có hành vi nguy cơ cao và hạ thấp nguy cơ lan tràn dịch nhiễm HIV ra cộng đồng. Nhờ các biện pháp dự phòng từ những năm 1994-1995 mà các hành vi nguy cơ ở nam giới đã giảm và việc dùng BCS đã gia tăng ở Cam-pu-chia vào cuối thập niên 1990; hệ quả là tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở phụ nữ mang thai từ 3,2% năm 1997 giảm còn 2,3% vào cuối năm 2000. Điều này cho thấy Cam-phu-chia đã bắt đầu kiểm soát được dịch nhiễm HIV.
Các chương trình dự phòng phù hợp được tài trợ đầy đủ và ủng hộ hết mình về mặt chính trị được xúc tiến mạnh ở Thái Lan đầu thập niên 1990 đã giúp hạ số nhiễm HIV mới hàng năm xuống còn 30.000 so với con số 140.000 một thập niên trước đó. Dù ước tính hiện có khoảng 700.000 người Thái đang sống với HIV, nhờ những nỗ lực dự phòng mà Thái Lan đã tránh được hàng triệu ca nhiễm HIV mới. Mặt khác, ở đất nước có 62 triệu dân này, cứ 60 người thì có 1 người nhiễm HIV và AIDS đã trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu bất chấp những thành công trong công tác phòng dịch. Có những dấu hiệu chỉ điểm cho thấy sự lây nhiễm từ chồng sang vợ (hay ngược lại) chiếm hơn một nửa số trường hợp nhiễm mới. Điều này nhắc chúng ta rằng nếu chỉ tập trung dự phòng trên những nhóm nguy cơ cao thôi thì chưa đủ. Các nước cần phải cẩn thận tìm ra mô hình lây truyền HIV của nước mình để có thể ngăn chặn hữu hiệu. Hơn nữa, với tỷ lệ nhiễm đang tăng vọt qua đường chích chung kim tiêm ở Thái Lan còn cho thấy cần phải tiếp tục duy trì các nỗ lực dự phòng khi dịch tiến triển.
Ở phần lớn châu Á-Thái Bình Dương, các chương trình dự phòng dịch nhiễm HIV đều thiếu kinh phí và nhân lực. Thường chỉ là các dự án nhỏ lẻ tẻ thiếu tính chặc chẽ và không được lượng giá đầy đủ; đây lại chính là hai thành tố giúp cho các chương trình dự phòng HIV đạt hiệu quả. Mặt khác, những người có hành vi nguy cơ bị phản đối hoặc phân biệt đối xử làm cho công cuộc dự phòng HIV càng khó khăn hơn.
TRẦN PHÚC HẬU
(Trích dịch từ http://www.unaids.org )
|