Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) ước tính có khoảng 340 triệu trường hợp mới thuộc 4 tác nhân STIs có thể chữa khỏi (lậu, chlamydia, giang mai và trùng roi) xảy ra mỗi năm, 75%-85% số này thuộc các nước đang phát triển. STIs đã tạo ra một gánh nặng về bệnh suất và tử suất ở các nước đang phát triển, cả về trực tiếp do tác động đến sức khỏe sinh sản và trẻ em, lẫn gián tiếp làm tăng khả năng lây truyền HIV. Tần suất lưu hành STIs cao đã tạo điều kiện thuận lợi làm gia tăng tỉ suất mắc HIV mới. Ngược lại, HIV, trong chừng mực nào đó cũng làm gia tăng STIs, đặc biệt các tác nhân virút như herpes simplex hay HPV (một số chủng gây nên mụn sùi, một số chủng gây ung thư cổ tử cung, hậu môn, dương vật). Ngân Hàng Thế Giới đã ước tính, ngoại trừ HIV, STIs là nguyên nhân đứng hàng thứ hai ảnh hưởng đến sức khỏe ở phụ nữ tuổi 15-44.
Giám sát STIs một cách có hệ thống và toàn diện hầu như chưa được thực hiện ở các nước đang phát triển. Hầu hết các dữ liệu có được là nhờ vào một số nghiên cứu hay hệ thống giám sát trọng điểm ít ỏi. (Xem thêm Khung 1)
Khung 1. Các yếu tố nền tảng giải thích tình hình tần suất STIs tăng cao ở các nước đang phát triển
- Các yếu tố dịch tễ học (Dân số trẻ hoạt động tình dục nhiều)
- Di dân vào nội thành với sự thay đổi về văn hóa xã hội
- Di chuyển nơi cư trú (lao động, chiến tranh, thảm họa thiên nhiên)
- Gia tăng mại dâm do kinh tế khó khăn
- Nhiều bạn tình
- Thiếu sự tiếp cận với các dịch vụ STIs hiệu quả và có khả năng chi trả
|
KIỂM SOÁT STIs
Theo WHO và UNAIDS (Chương Trình Phòng Chống HIV/AIDS của Liên Hiệp Quốc), chương trình kiểm soát STIs bao gồm 3 mục tiêu:
- Cắt đứt đường lây truyền STIs
- Ngăn ngừa bệnh tiến triển, các biến chứng và di chứng
- Giảm lây truyền HIV
Giáo dục sức khỏe và khuyến khích sử dụng bao cao su có khả năng làm thay đổi hành vi, và vì vậy làm giảm tỉ suất mắc STIs mới. Sàng lọc bệnh, phát hiện ca bệnh, cải thiện việc tiếp cận với chăm sóc, và cải thiện quản lý ca bệnh có thể giúp phòng ngừa các biến chứng, và vì vậy giảm sự lây truyền, bằng cách rút ngắn thời gian nhiễm trùng. Điều trị giả định trên nhóm mục tiêu hay đại trà theo chu kỳ để giảm bớt nhu cầu điều trị vì STIs thường không biểu hiện triệu chứng, với mục tiêu giảm tỉ suất mới nhiễm bằng cách giảm số người nhiễm trong quần thể có tần suất lưu hành bệnh hay tỉ suất mới mắc cao.
** Dự phòng STIs nguyên phát
* Can thiệp hành vi
Dự phòng nguyên phát nhằm thay đổi hành vi như trì hoãn tuổi quan hệ tình dục (QHTD) lần đầu, kiêng QHTD và tạo dựng những mối quan hệ chung thủy, cũng như khuyến khích “ An toàn tình dục”, bao gồm giảm số bạn tình, hành vi tình dục an toàn hơn như QHTD không giao hợp, và cuối cùng là dùng bao cao su (BCS) đúng cách. Những can thiệp này đòi hỏi phải có thông tin giáo dục truyền thông (IEC) và hỗ trợ giáo dục đồng đẳng. Điều này hết sức quan trọng đối với vị thành niên. Các can thiệp này thường dựa vào “Mô hình niềm tin sức khỏe”, cho rằng một cá thể có quyền năng làm thay đổi hành vi cần thiết. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thuốc phiện, nghèo đói và giới tính có thể làm giảm khả năng hành động theo ý muốn.
Một số ít nghiên cứu tỉ mỉ đã lượng giá tác động của các can thiệp hành vi trên HIV và STIs, và điều đáng thất vọng là dữ liệu từ nghiên cứu cho thấy thay đổi hành vi không phải lúc nào cũng làm thay đổi tần suất lưu hành hay tỉ suất mới mắc STIs. Tuy nhiên, thay đổi hành vi như trì hoãn QHTD và giảm số bạn tình ít ra cũng giảm đáng kể HIV ở Uganda, mặc dù tác động đồng thời trên STIs chưa được đo lường.
* Các biện pháp rào cản
Khi được sử dụng thích hợp và đúng cách, BCS là một trong những biện pháp bảo vệ HIV/STIs hiệu quả nhất. BCS lưu hành rộng rãi trên thị trường qua phân phối miễn phí hay tiếp thị xã hội với BCS giá rẽ. Ở Thái Lan, chương trình 100% BCS, khuyến khích sử dụng BCS 100% ở các cơ sở hành nghề mại dâm, đã phải khắc phục biết bao rào cản về văn hóa, truyền thống. Chương trình này liên quan với việc gia tăng an toàn tình dục và do đó giảm HIV/STIs ở Quân đội Thái, giảm số khách hàng nam đến khám tại các cơ sở chữa trị STIs trên toàn quốc.
Mặc dù có nhiều cơ quan, tổ chức đã nỗ lực và lượng BCS bán ra đáng kể trong thập kỷ qua, chỉ có phần nhỏ dân số hoạt động tình dục ở nhiều nước sử dụng BCS, hoặc nếu sử dụng thì cũng không thường xuyên hoặc chỉ với bạn tình có chọn lọc. Các rào cản ảnh hưởng đến việc luôn sử dụng bao cao su bao gồm giá cao, lưu hành ít và tiếp thị chưa đủ. Phụ nữ cũng bị buộc QHTD không an toàn do bất bình đẳng giữa hai giới.
* Các biện pháp phòng ngừa STIs dành cho nữ giới
Trẻ gái đặc biệt cảm nhiễm với STIs vì bỏ qua các biện pháp phòng ngừa thích hợp và QHTD ngoài dự tính hay bị ép buộc. Vì vậy mà có các biện pháp phòng ngừa STIs tạm thời dành cho nữ giới. Các biện pháp này bao gồm BCS nữ, thuốc đặt diệt vi trùng. Chẳng may, cả hai biện pháp này tỏ ra thất vọng hay sử dụng giới hạn. BCS nữ có một số điểm thuận lợi như hiệu lực bảo vệ cao, an toàn và trong một số trường hợp, phụ nữ chấp nhận được. Tuy nhiên, điểm bất lợi bao gồm giá cao, không thẩm mỹ, khó sử dụng, đòi hỏi phải chuẩn bị trước khi giao hợp và các phản ứng khác nhau từ cánh đàn ông.
Thuốc đặt diệt vi trùng được phát triển từ sớm những năm 90. Một chất hóa học có tính năng diệt virút và vi trùng (nonooxynol 9, hoặc N-9) lúc đầu đã khơi dậy niềm hy vọng, nhưng cuối cùng đã không ngăn chặn được HIV. Một số phức chất không phải lúc nào cũng diệt được STIs, và đã có bằng chứng cho thấy dùng lặp lại nhiều lần có thể phá vỡ niêm mạc âm đạo và khiến người sử dụng cảm nhiễm nhiều hơn với các nhiễm trùng. Tuy nhiên, người ta đang nghiên cứu một số sản phẩm mới nhưng cần phải lượng giá trước khi đưa vào sử dụng.
* Vắcxin
Các vắcxin an toàn và hiệu quả ắt sẽ đơn giản hóa đáng kể khối lượng công việc của các nhà quản lý chương trình kiểm soát STIs. Chẳng may, chỉ có mỗi viêm gan B, tác nhân gây bệnh có thể lây truyền qua đường tình dục là có vắcxin phòng ngừa, mặc dù báo cáo gần đây về hiệu quả của vắcxin HPV là một tin đáng mừng. Vắcxin HSV liên tục bị thất bại, mặc dù một nghiên cứu lớn ở Hoa Kỳ cho thấy có hiệu lực bảo vệ HSV-2 ở phụ nữ lúc đầu âm tính với HSV-1. Một thử nghiệm lâm sàng khác lớn hơn đang được tiến hành mặc dù tính xác thực về việc HSV-1 tăng cao ở quần thể trẻ tuổi chưa chắc chắn.
Giả dụ có lưu hành các vắcxin tốt đi nữa, việc triển khai chương trình vắcxin ở các nước đang phát triển ắt sẽ khủng khiếp, nếu không bàn đến việc liệu các đối tượng có chấp nhận hay không, các bậc cha mẹ có đồng ý hay không khi tiêm chủng ngay trước thời kỳ con cái họ có khả năng hoạt động tình dục.
Người ta cũng sợ rằng hành vi sau tiêm chủng sẽ thay đổi vì đối tượng sẽ ỷ lại vào vắcxin, cảm giác an toàn và do vậy có thể mắc các STIs khác vốn chưa có vắcxin.
(Còn tiếp, Bản tin AIDS 22)
Nguyễn Vũ Thượng theo
P. Mayaud and D Mabey, Approaches to the control of sexually transmitted infectionsin developing countries: old problems and modern challenges, STI 2004: 80:174-182